Một số câu hỏi thường gặp về bệnh Gút

● BS.CKII. Lưu Văn Ái
Khoa Nội Cơ Xương Khớp - Bệnh viện Chợ Rẫy

Xét nghiệm máu thấy tăng acid uric máu có phải đã mắc bệnh gút hay không? Làm sao biết mình bị gút?

Xét nghiệm acid uric máu cao (> 7mg /dL hoặc > 420 µmol/L) không có nghĩa là đã mắc bệnh gút, mà chỉ là có nguy cơ bị gút. Tăng acid uric máu là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh gút. Do vậy, trong trường hợp này cần duy trì chế độ ăn hợp lý (giảm bớt chất đạm và các thức ăn giàu purin), hạn chế rượu, bia, kiểm soát cân nặng, tập vận động hợp lý và theo dõi định kỳ để hạn chế mức tăng acid uric máu, đây cũng là cách phòng bệnh hiệu quả nhất.

Khi có tăng acid uric máu, kèm các cơn viêm khớp cấp, có nghĩa đã mắc bệnh gút. Bệnh gút thường khởi phát cấp tính, thường vào nửa đêm gần sáng, với tính chất sưng tấy, nóng, đỏ mọng, đau dữ dội và đột ngột ở một khớp (không đối xứng). Thường gặp nhất ở ngón chân cái, kế đó là khớp bàn chân, khớp cổ chân, các ngón chân khác, khớp gối, bàn tay và các khớp, các vùng gần khớp khác.

Có thể có kèm một số triệu chứng toàn thân như sốt cao, lạnh run, ớn lạnh..., thậm chí, một số trường hợp gây nhức đầu, ói mửa, cổ gượng (do phản ứng màng não).

Hiện tượng viêm cấp tuy rất rầm rộ nhưng cũng chỉ kéo dài từ 5-10 ngày, rồi khỏi hoàn toàn, không để lại di chứng gì tại khớp. Nếu được dùng thuốc sớm, đúng thuốc, đúng liều lượng bệnh sẽ hết rất nhanh (dưới 5 ngày).

Bệnh tái phát từng đợt với xu hướng càng ngày càng nhiều đợt viêm hơn, các đợt viêm khớp ngày càng dài ra, càng lâu khỏi hơn, càng có nhiều khớp bị viêm hơn và chuyển sang mạn tính với các biểu hiện ngoài khớp (thận, mạch máu...).
Bệnh gút là gì? Bệnh gút thường gặp ở những đối tượng nào?

Gút là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa của một chất gọi là purin mà hậu quả là hình thành quá nhiều acid uric tích tụ trong cơ thể. Khi gặp điều kiện thuận lợi, chất này sẽ lắng đọng dưới dạng tinh thể urat ở khớp và các mô trong cơ thể gây ra bệnh gút.

Theo thống kê gần đây ở các nước phát triển, tỷ lệ mắc bệnh gút là 3,9%, tỷ lệ tăng acid uric là 24,4% dân số người lớn. Phần lớn (90%) bệnh nhân là nam giới có độ tuổi trên 40.

Tuy nhiên, gần đây, bệnh có xu hướng gặp ở độ tuổi trẻ hơn và nhiều hơn ở giới nữ, đặc biệt là phụ nữ lớn tuổi (trên 60).
 Những nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ nào có thể gây ra bệnh gút?

Nguyên nhân gây ra bệnh gút chia làm 3 nhóm:
- Gút nguyên phát: Chiếm tỷ lệ cao nhất (95% các trường hợp), chưa rõ nguyên nhân. Bệnh có thể liên quan đến yếu tố gia đình và một số rối loạn chuyển hóa khác như đái tháođường, rối loạn lipid máu, bệnh lý tim mạch.
- Bệnh gút do thiếu hụt một số men chuyển hóa dẫn đến sản xuất quá nhiều acid uric như thiếu men HGPRT, tăng hoạt tính men PRPP synthetase.
- Gút thứ phát do suy thận, do dùng thuốc kháng lao, thuốc chống ung thư, lợi tiểu, do mắc các bệnh ác tính như lymphoma hoặc một số bệnh khác như bệnh vẩy nến, sarcoidose…
Những người béo phì, uống nhiều rượu bia, chế độ ăn giàu purin (như phủ tạng động vật, cá trích, cá hồi, măng tây… hoặc có mắc một số bệnh như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp… là những đối tượng có nhiều nguy cơ mắc bệnh gút hơn.
 Cách điều trị bệnh gút như thế nào? Thời gian điều trị bao lâu?

Bệnh gút thường gây ra các đợt viêm khớp cấp tính và tái phát nhiều đợt sau một thời gian dài không được điều trị sẽ chuyển thành mạn tính. Hiện đã có thuốc chữa bệnh gút nhưng chỉ có tác dụng ở giai đoạn sớm. Thường chỉ nửa ngày sau khi uống thuốc, các triệu chứng bệnh sẽ giảm. Nhưng nếu bệnh nhân không kiêng cữ đúng mức, bệnh sẽ tái phát. Điều đó có nghĩa là hiện nay chưa có thuốc nào điều trị được tận gốc căn
bệnh này. Do đó, trong các đợt viêm khớp cấp tính, người bệnh nên khám và dùng thuốc chống viêm theo hướng dẫn của bác sĩ. Về lâu dài, bệnh nhân gút cần dùng thuốc làm giảm và duy trì nồng độ acid uric trong máu ở mức bình thường bằng các thuốc chống tổng hợp acid uric như allopurinol hoặc febuxostat (theo chỉ định của bác sĩ).
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn luôn luôn thực hiện cùng với chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý. Như vậy bệnh gút cần được theo dõi và điều trị suốt đời giống như tăng huyết áp trong tim mạch hoặc bệnh
đái tháo đường trong nội tiết.
Bệnh gút có gây ra hậu quả gì nguy hiểm không?

Hậu quả trước mắt là các đợt viêm khớp gút cấp - sưng đau khớp rất dữ dội làm cho người bệnh không đi lại được. Ở giai đoạn đầu, các đợt viêm này thường cấp tính trong vài ngày, không kéo dài, không thường xuyên và dễ kiểm soát.
Tuy nhiên, nếu bệnh không được điều trị đúng và đủ, các đợt viêm khớp sẽ xuất hiện thường xuyên hơn, kéo dài hơn, khó chữa hơn và để lại các hậu quả lâu dài do biến chứng tại khớp (viêm nhiều khớp, biến dạng khớp, xuất hiện nhiều u cục quanh khớp, cứng khớp, biến dạng khớp, tàn phế…) và ngoài khớp (sỏi hệ tiết niệu, suy chức năng thận, ảnh hưởng tới chức năng tim, mạch…), các biểu hiện này là nguyên nhân chính làm giảm tuổi thọ của các bệnh nhân gút.

 Bệnh gút có khó trị không?

Với những hiểu biết hiện nay về bệnh gút, với những phương tiện và thuốc men hiện có, bệnh gút được coi là bệnh dễ chẩn đoán, có thể chẩn đoán sớm, có thể kiểm soát bệnh và điều trị đạt kết quả. Tuy nhiên, trên thực tế ở nước ta, mọi việc hầu như bị đảo ngược và lý do cơ bản là sự thiếu hụt kiến thức về một bệnh lý thường gặp. Sự thiếu hụt kiến thức này không chỉ ở cộng đồng, ở người bệnh mà còn ở cả nhiều thầy thuốc (chẩn đoán nhầm là nhiễm trùng và cho uống thuốc kháng sinh hoặc được chẩn đoán chung chung là viêm khớp hay viêm đa khớp) và cho dùng các thuốc kháng viêm, thậm chí lạm dụng các thuốc kháng viêm trong điều trị. Chính sự thiếu hụt kiến thức này đã biến một căn bệnh dễ chẩn đoán, có thể kiểm soát… thành chứng bệnh nan y (do các biến chứng tại khớp và ngoài khớp của bệnh, các biến chứng và hậu quả của các thuốc kháng viêm). Và khi đã thành nan y thì việc điều trị sẽ rất khó khăn và tốn kém, bệnh có thể bị ảnh hưởng tới chất lượng sống và tuổi thọ của người bệnh.

Thuochanoi.com
loading