Hoa Đào: Thuốc quý chữa bệnh

⚫ BSCKI. YHDT – BSDD. Phạm Hồng Nga

Đào không chỉ được biết đến là cây cảnh đặc trưng của mùa Xuân, biểu tượng không thể thiếu trong ngày Tết cổ truyền của người dân miền Bắc (Việt Nam) mà nó còn được biết đến là một phương thuốc quý. Nhiều bộ phận của cây đào được dùng làm thuốc chữa bệnh: hạt đào (đào nhân), hoa đào, lá đào, rễ đào, nhựa đào… đều là thành phần của những bài thuốc quý.

Đào nhân có vị đắng ngọt, tính bình, vào các kinh tâm, can, đại trùng, có tác dụng phá huyết, hành ứ, nhuận táo, hoạt trường. Lá đào có vị đắng, tính bình, có tác dụng khu phong, bài thấp, thanh nhiệt, sát trùng.
Rễ đào có vị đắng, tính bình.

Nhựa đào có vị đắng, ngọt, tính bình, có tác dụng giảm đau, lợi tiểu.

Hoa đào có vị đắng, tính bình, có tác dụng lợi thủy, hoạt huyết, thông tiện.

* HẠT ĐÀO

1. Chữa ho, hen suyễn: 4,5 - 9g. Sắc uống trong ngày.

2. Chữa kinh nguyệt không đều, thống kinh: Đào nhân, hồng hoa, Ngưu tất, tô mộc, nghệ vàng, mần tưới, mỗi vị 6 - 8g. Sắc nước uống.

3. Chữa máu kết thành cục không tan trong bụng (Đào nhân hồng hoa thang): Đào nhân (bỏ vỏ), hồng hoa, tô mộc, mỗi thứ 3g. Thanh bì 2,5g. Ô dược 1g. Độc hoạt 2g. Bạch tật lê (bỏ gai) 3,5g. Sắc uống.

4. Chữa huyết bế sau sinh: Đào nhân (bỏ vỏ) 12 hạt, ngó sen 1 cái. Sắc uống.

5. Chữa bế kinh, ứ huyết đau bụng kinh: Đào nhân 6g, dương quy 10g, xích thược 10g, xuyên khung 3g, hồng hoa 5g. Sắc uống, chia nhiều lần trong ngày.

tác dụng của  hoa đào

* LÁ ĐÀO

1. Chữa tinh hoàn sưng to: Lá đào + lá cuốn chiếu, mỗi thứ 30g. Sắc nước uống. Đồng thời lấy lượng lá đào bằng lá cuốn chiếu, giã nhỏ, xào nóng, đắp tại chỗ tinh hoàn sưng to.

2. Chữa ghẻ lở, viêm kẽ chân, chữa sưng tấy, vết thương, vết đứt: Lá đào tươi giã nát, đắp tại chỗ. Nước sắc lá đào dùng để tắm, ngâm rửa chỗ viêm kẽ chân. Lá đào + lá dâu tằm giã nát, đắp tại chỗ vết thương, vết nứt. Lá đào + lá cà tím + lá cỏ roi ngựa, lượng bằng nhau, giã đắp chữa sưng tấy.

3. Chữa ho: Nước cất từ lá đào tươi.

4. Chữa đại tiện không thông: Lá đào tươi một nắm rửa sạch, giã nát, vắt nước uống.

5. Chữa sốt rét: Lá đào tươi 70g. Sắc uống ngày một lần, dùng liên tục 5 ngày.

6. Chữa mề đay: Lá đào tươi 500g thái nhỏ, ngâm vào trong 500 ml cồn từ 24 - 48 giờ, lọc bỏ bã. Dùng bôi ngoài da ngày 2 - 3 lần.

7. Chữa ngứa âm hộ: Lá đào tươi, vỏ cây xoan, hoàng bá tươi, mỗi thứ 30g, vỏ rễ lựu tươi 50g, lá khuynh diệp tươi 25g, hạt tiêu 20 hạt. Đun sôi, bỏ bã, cho thêm băng phiến. Dùng nước xông rửa, ngâm bên ngoài. Không được uống.

Chú ý: Lá đào có acid cyanhydric, có thể gây ngộ độc. Thận trọng khi sử dụng. Dùng liều vừa đủ, kể cả khi uống lẫn khi bôi, đắp, ngâm, rửa… bên ngoài.

* RỄ ĐÀO

Chữa bế kinh, vô kinh lâu ngày ở phụ nữ. Chữa suy nhược, thiếu máu, trong bụng có khối u: Rễ đào 600g, rễ ngưu bằng 600g, rễ mã tiện thảo 600 g, ngưu tất 1.200g. Các vị chặt nhỏ, bỏ vào 6 lít nước sôi, sắc lại còn 2 lít. Lọc bỏ bã. Uống ngày 2 lần, lần 15ml, pha với rượu nóng. Uống trước bữa ăn.

* NHỰA ĐÀO

1. Chữa bệnh đái tháo đường: Nhựa đào 20g, tán nhỏ. Uống với nước sắc địa lốt bì và rau bắp (ngô), mỗi vị 30g.

2. Chữa đái ra máu: Nhựa đào, thạch cao, mộc thông, mỗi thứ 15g, nghiền thành bột mịn. Lấy 6g sắc với 200ml nước, còn lại 100ml. Uống 1 lần trước bữa ăn.

3. Chữa đái ra dưỡng chấp: Nhựa đào 10g + đường kính, đun cách thủy, uống làm nhiều lần trong ngày.

* HOA ĐÀO

Chữa phù thủng, cước khí, đờm ẩm: Hoa đào 30g, vò nát, uống với rượu ấm.

* QUẢ ĐÀO NON XANH (BÍCH ĐÀO CAN)

1. Chữa ra mồ hôi trộm: Bích đào can 1 quả, quả mai 2 quả, rễ hành 7 nhánh, đăng tâm 2 cái, trần bì 3g, mầm đại mạch, rễ cây lựu, mỗi thứ 30g. Sắc nước uống.

2. Chữa ra máu khi mang thai: Bích đào can, sao tồn tích 1 quả, nghiền nát thành bột uống với nước.

Đào là một loài cây thuốc quý, trái đào là một thức ăn ngon, hoa đào là một loài hoa đẹp và là biểu tượng của mùa Xuân phía Bắc đang tươi hồng hạnh phúc tình yêu.

loading