Điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

● PGS.TS.BS. Lê Tiến Dũng
Trưởng khoa Hô hấp - BV Đại học Y Dược TP.HCM

 Khi bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), nguy cơ thiệt hại cho phổi không thể đảo ngược, vì vậy điều trị tập trung vào kiểm soát triệu chứng và giảm thiểu thiệt hại là biện pháp cần chú trọng.

Khác với hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được đặc trưng bằng hiện tượng hạn chế lưu thông khí trên đường thở không hồi phục hoàn toàn. Hiện tượng hạn chế lưu thông khí này thường tiến triển tăng dần và kết hợp với một quá trình viêm bất thường của phổi dưới tác động của ô nhiễm khí thở.

Các giai đoạn của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Giai đoạn Triệu chứng Khả năng gắng sức FEV1% GTLT(**)
I: Nhẹ Có thể có hay không triệu chứng ho, khạc đờm. Bệnh nhân thường không cảm thấy khó thở ≥ 80%
II: Trung bình Có triệu chứng khó thở khi gắng sức nhẹ. Ở giai đoạn này, bệnh nhân thường đi khám bệnh vì triệu chứng hô hấp hoặc vì các đợt cấp   50 – <80%
III: Nặng Có triệu chứng khó thở thường xuyên, giảm khả năng gắng sức, có nhiều đợt cấp hơn và chất lượng cuộc sống giảm sút   30 - <50%
IV: Rất nặng Bệnh nhân khó thở nặng thường xuyên. Các đợt cấp luôn đe dọa tử vong. Có thể có biểu hiện tâm phế mạn. Chất lượng cuộc sống giảm nặng   < 30% hoặc < 50% kèm theo suy hô hấp mạn (***)

(*) Phân loại mức độ nặng theo FEV1 là phân loại của GOLD 2006 (Chiến lược xử trí toàn cầu BPTNMT do Viện Huyết học và Tim, Phổi Mỹ kết hợp với WHO khuyến cáo). GOLD 2006 bỏ giai đoạn 0 (nguy cơ) ra khỏi bảng phân loại mức độ nặng.

(**) GTLT: Giá trị lý thuyết ước tính theo tuổi, chiều cao, giới và sắc tộc.

(***) Triệu chứng suy hô hấp mạn, PaO2 < 60mmHg thở khí phòng hoặc có suy tim phải.

điều trị bệnh phổi

Sử dụng thuốc trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính:

Do bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính là một quá trình tiến triển mạn tính, nặng dần nên cần có một kế hoạch từng bước trong xử trí thuốc. Đáp ứng của từng trường hợp sẽ khác nhau nên kế hoạch này cần được theo dõi và đánh giá trên từng người bệnh.

BPTNMT giai đoạn I-IV có thể sử dụng thuốc dạng hít kháng cholinergic tác dụng ngắn (Ipratropium bromide và Oxitropium bromide) và / hoặc kích thích beta2 tác dụng ngắn (salbutamol, albuterol, terbutaline) khi cần để khống chế triệu chứng.

Từ giai đoạn II-IV nên trị liệu thường xuyên bằng giãn phế quản tác dụng kéo dài. Trị liệu ngày một lần với kháng cholinergic tác dụng kéo dài (Tiotropium bromide) hoặc kích thích beta2 tác dụng kéo dài (LABAs) là sự lựa chọn tốt nhất. Việc kết hợp thuốc giãn phế quản có thể cải thiện hiệu quả trên một số bệnh nhân.

xem thêm: 8 cách phòng bệnh viêm phổi cho người lớn tuổi khi giao mùa

Theophyllin phóng thích chậm chỉ nên sử dụng khi các thuốc giãn phế quản khác kém hiệu quả.

Trị liệu Corticosteroid hít thường xuyên được khuyến cáo cho những trường hợp FEV1 sau thuốc giãn phế quản < 50% giá trị lý thuyết và thường có các đợt cấp (thí dụ có 3 đợt cấp trong 3 năm cuối). Trị liệu corticosteroid hít sử dụng thường xuyên với liều cao có thể làm loãng xương và tạo các vết bầm tím trên da. Đã có bằng chứng dùng corticosteroid hít kéo dài làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn hô hấp.

Kháng sinh và corticosteroid toàn thân chỉ dùng cho từng đợt ngắn trong các đợt cấp nặng. Kháng sinh dự phòng không làm giảm đợt cấp và tử vong. Kết hợp corticosteroid và thuốc giãn phế quản tác dụng dài cho thấy có hiệu quả hơn so với sử dụng riêng rẽ.

Các phương pháp trị liệu không dùng thuốc:

- Tiêm vắc-xin: Vắc-xin cúm làm giảm rõ rệt các đợt cấp nặng và tử vong trong BPTNMT, nhất là đối với bệnh nhân lớn tuổi. Hằng năm nên tiêm một lần.

Vắc-xin chống Pneumococcus (pneumococcal polysaccharide) có thể làm giảm viêm phổi cộng đồng, nên tiêm cho bệnh nhân BPTNMT trên 65 tuổi.

- Phục hồi chức năng hô hấp: chương trình tái phục hồi chức năng hô hấp cần có cả những bài tập thể lực, hướng dẫn dinh dưỡng hợp lý và giáo dục - tâm lý trị liệu. Mục tiêu của trị liệu này là giảm triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống. Chương trình này cần kéo dài ít nhất trên hai tháng và nếu duy trì thì hiệu quả càng tốt.

- Ngưng hút thuốc lá: là bắt buộc với bệnh nhân và là biện pháp duy nhất giúp cải thiện chức năng hô hấp cho bệnh nhân.

loading