Tác dụng của cây sả và cây sả chữa được bệnh gì

DS. ĐỖ HUY BÍCH

Trong thực phẩm, sả là một gia vị quen thuộc được dùng ăn sống hoặc tẩm ướp cho thơm các món ăn được chế biến từ thịt heo, thịt chó. Trong y học, sả có tác dụng: phòng và chữa bệnh.

Về phòng bệnh, người dân nhiều vùng nông thôn nước ta thường lấy nõn sả muối dưa ăn để phòng ngừa sơn lam chướng khí, sốt rét. Phụ nữ lại lấy lá sả nấu nước gội đầu làm thơm, sạch gàu, trơn tóc, tránh những bệnh về tóc và da đầu. Nhân dân trồng cây sả quanh nhà ngoài vườn, xung quanh nhà vệ sinh để xua đuổi ruồi, muỗi, dĩn (một loại côn trùng nhỏ li ti, có cánh, hút máu người khi đốt), bọ chét vừa làm sạch môi trường, vừa có tác dụng phòng bệnh. Ngoài ra, tinh dầu sả còn khử mùi hôi trong công tác vệ sinh.

Về chữa bệnh, trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, sả được dùng với tên thuốc là hương mao hay hương thảo. Dược liệu có vị the, cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng làm ra mồ hôi, sát khuẩn, chống viêm, hạ khí, thông tiểu, tiêu đờm.

cây xả phòng và chữa bệnh

Y học cổ truyền thường dùng lá sả phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

- Chữa bụng trướng, chân tay gầy gò: lá sả 12 g; vỏ bưởi, hồi hương, trạch tả, mộc thông, cỏ bấc, mỗi vị 10 g; quế 5 g; bồ hóng, diêm tiêu, mỗi vị 2 g; xạ hương 0,05 g. Tất cả sắc cách thủy với 200 ml nước trong 15 - 30 phút, rồi uống làm 2 lần trong ngày. Kiêng ăn cơm nếp và muối mặn. Nên ăn vài khẩu mía trước khi uống thuốc để tránh khé cổ.

- Thuốc xông giải cảm: lá sả, lá bưởi, lá chanh, cúc tần, hương nhu hoặc lá bạch đàn (có thể thêm tía tô, bạc hà, kinh giới), mỗi thứ 50 g, cho vào nồi, đậy kín, đun sôi trong 5 - 10 phút. Lấy ra, mở vung, trùm mền xông hơi cho ra mồ hôi, lau khô, rồi uống một chén nước thuốc, đắp mền, nằm nghỉ.

- Chữa phù nề chân, tiểu ít, thấp thũng: lá sả 100 g, rễ cỏ xước, rễ cỏ tranh hoặc bông mã đề, mỗi thứ 50 g. Tất cả rửa sạch, xắt nhỏ, phơi khô, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm 2 lần trong ngày. Dùng 3 - 4 ngày.

Lấy rễ sả tươi giã nát, xát vào vết chàm chữa chàm mặt ở trẻ em. Có thể dùng phối hợp để trị các bệnh:

- Chữa tiêu chảy: rễ sả 10 g; củ gấu, vỏ rụt, mỗi vị 8 g; vỏ quýt, hậu phác, mỗi vị 6 g; sắc uống. Hoặc rễ sả 10 g, búp ổi 8 g, củ riềng già 8 g, xắt nhỏ, sao qua, sắc đặc uống.

- Chữa đau dạ dày - tá tràng: rễ sả sao 10 g; cám gạo rang cháy 10 g; Hương phụ sao 8 g; hậu phác tẩm nước gừng, sao 6 g; thạch xương bồ, củ riềng nướng, mỗi vị 4 g; dạ dày heo sấy khô giòn 1 cái. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 12 g với nước ấm.

- Chữa ho: rễ sả, trần bì, sinh khương, tô tử, mỗi vị 250 g (4 vị này giã nát, ngâm rượu 400 vừa đủ để được 200 ml); bách bộ bỏ lõi, xắt nhỏ, sao khô 500 g; mạch môn bỏ lõi 300 g; tang bạch bì tẩm mật, sao vàng 200 g (3 vị này sắc và cô đặc lại thành 300 ml cao lỏng). Trộn lẫn cao lỏng và rượu thuốc. Ngày uống 2 - 3 lần, mỗi lần 10 ml.

Dùng ngoài, rễ sả xắt nhỏ, phơi khô, tán bột trộn với phèn phi rồi bôi để chữa loét nướu, hôi nách.

Tinh dầu chiết được từ lá và rễ sả được dùng uống, mỗi lần 3 - 6 giọt pha trong sữa và nước thành nhũ tương, có tác dụng thông trung tiện, chống nôn, giảm đau, chữa đầy bụng, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy. Ở một số nước châu Âu, nước sả có đường là một loại đồ uống giải khát, thanh nhiệt được nhiều người ưa thích.

Dùng ngoài, tinh dầu sả phối hợp với nhiều loại tinh dầu khác để xoa bóp làm giảm đau xương, đau mình, nhức mỏi. Bôi trên da hoặc phun trong nhà, dầu sả là thuốc diệt muỗi, dĩn, bọ chét.

loading