Đau ngực do viêm màng ngoài tim

● ThS.BS. Ngô Bảo Khoa

Đau ngực là một triệu chứng thường gặp, trong đó có nguyên nhân do tim mạch và nguyên nhân không do tim mạch. Bên cạnh những nguyên nhân tim mạch thường được đề cập đến như thiếu máu cơ tim, bệnh động mạch chủ…, có một bệnh lý ít gặp hơn nhưng cũng có triệu chứng chính là đau ngực và cũng có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm, đó là bệnh viêm màng ngoài tim.

Nguyên nhân thường gặp là nhiễm siêu vi

Màng ngoài tim là lớp màng bao quanh tim và các mạch máu của tim như động mạch chủ, động mạch phổi… Màng ngoài tim có chức năng bao bọc tim, ngăn cản tim giãn ra quá mức và tạo ra môi trường khoang màng ngoài tim góp phần giúp tim hoạt động hiệu quả. Viêm màng ngoài tim là tình trạng viêm xảy ra ở màng ngoài tim, có thể khiến cho màng ngoài tim tăng tiết dịch, có thể xảy ra cấp tính, nghĩa là xảy ra đột ngột và không kéo dài, hoặc viêm mạn tính. Mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, đặc biệt là nam giới trong độ tuổi 20-50 thường gặp tình trạng này hơn các nhóm đối tượng khác. Trong số các trường hợp viêm màng ngoài tim được phát hiện và điều trị, có khoảng 15-30% trường hợp tái phát sau đó và một số nhỏ diễn tiến thành mạn tính.

Trong nhiều trường hợp, không xác định được nguyên nhân đưa đến viêm màng ngoài tim, những trường hợp này được gọi là vô căn. Những trường hợp còn lại có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân. Nhóm nguyên nhân thường gặp là nhiễm trùng, chẳng hạn viêm màng ngoài tim sau viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, viêm phổi, và phổ biến nhất là do nhiễm siêu vi.

màng tim

Viêm màng ngoài tim mạn tính thường có nguyên nhân là các bất thường tự miễn như bệnh lupus ban đỏ, viêm khớp dạng thấp. Ngoài ra, còn có các nguyên nhân khác đưa đến viêm màng ngoài tim như là sau nhồi máu cơ tim, sau phẫu thuật tim, suy thận, hội chứng suy giảm miễn dịch, ung thư, lao, chấn thương ngực, sau xạ trị…

Đau ngực là triệu chứng chính

Trong viêm màng ngoài tim cấp, triệu chứng thường gặp nhất là đau ngực. Đau ngực này được mô tả là đau nhói, đau như bị dao đâm, thường xảy ra ở giữa ngực trái, có thể đau ở một hoặc hai bên vai. Một số người chỉ đau ngực mơ hồ hoặc có cảm giác như bị đè ép ở ngực. Đặc biệt, đau ngực trong viêm màng ngoài tim cấp sẽ giảm khi ngồi cúi người ra trước và tăng lên khi ho hoặc khi hít thở sâu. Bên cạnh đó, người bệnh có thể kèm theo các triệu chứng và dấu hiệu như sốt, yếu mệt, nhức mỏi cơ, khó thở, hồi hộp đánh trống ngực…

Khi nghe tim của người bị viêm màng ngoài tim, bác sĩ có thể nghe được tiếng cọ màng tim. Đây là âm thanh tạo ra do hai lớp của màng ngoài tim bị viêm cọ xát lên nhau. Nếu nghi ngờ một người bị viêm màng ngoài tim, bác sĩ sẽ cho làm xét nghiệm đo điện tâm đồ và siêu âm tim. Viêm màng ngoài tim có thể gây ra những thay đổi điện đặc trưng trên điện tâm đồ. Siêu âm tim giúp xác định có tràn dịch màng ngoài tim hay không, tuy nhiên, cần lưu ý là không phải tất cả các trường hợp viêm màng ngoài tim đều có tràn dịch màng ngoài tim. Tóm lại, trong 4 dấu hiệu bao gồm đau ngực, có tiếng cọ màng tim, có thay đổi điện trên điện tâm đồ, có tràn dịch màng tim, thông thường, người bị viêm màng ngoài tim sẽ có ít nhất hai trong bốn dấu hiệu trên. Thêm nữa, bác sĩ sẽ cho người bệnh làm xét nghiệm máu để thử trị số CRP nhằm củng cố chẩn đoán viêm màng ngoài tim, bởi vì CRP sẽ tăng lên nếu trong cơ thể người bệnh có biểu hiện phản ứng viêm. CRP cũng giúp theo dõi diễn tiến và hiệu quả của quá trình điều trị. Ngoài ra, bác sĩ sẽ cho người bệnh làm một số xét nghiệm để tầm soát và chẩn đoán nguyên nhân gây ra viêm màng ngoài tim.

xem thêm: Phân tích nguyên nhân và triệu chứng bệnh thiếu máu

Cảnh giác với những biến chứng nguy hiểm

Phương pháp điều trị chủ yếu của viêm màng ngoài tim là điều trị nội khoa. Nếu xác định được nguyên nhân gây bệnh thì cần điều trị nguyên nhân đó, chẳng hạn bị nhiễm trùng thì cần điều trị kháng sinh, bị lao thì cần điều trị lao. Bên cạnh đó, bác sĩ sẽ cho thuốc giảm đau, thuốc kháng viêm, kết hợp với việc cho người bệnh nghỉ ngơi, tránh làm các công việc nặng.

Viêm màng ngoài tim cấp thường nhẹ và có thể tự khỏi. Mặc dù vậy, cần lưu ý là một số trường hợp không được điều trị có thể đưa đến viêm màng ngoài tim mạn tính hoặc các biến chứng nguy hiểm là tràn dịch màng ngoài tim gây chèn ép tim cấp, viêm màng ngoài tim co thắt…

Màng ngoài tim bị viêm có thể tăng tiết dịch vào trong khoang màng ngoài tim. Khi lượng dịch này quá nhiều sẽ gây chèn ép trái tim, trái tim không thể nào giãn ra để thực hiện chức năng co bóp. Với những trường hợp tràn dịch màng ngoài tim lượng nhiều đe dọa chèn ép tim hoặc những trường hợp đã có biểu hiện chèn ép tim rồi, bác sĩ cần nhanh chóng rút bỏ lượng dịch trong khoang màng ngoài tim, nếu không có thể bị nguy hiểm đến tính mạng. Bác sĩ thực hiện thủ thuật chọc hút dịch màng ngoài tim bằng cách đưa một cây kim vào khoang màng ngoài tim dưới sự hướng dẫn của siêu âm tim và qua đó rút bỏ dịch. Có những trường hợp bác sĩ phải tiến hành phẫu thuật mở một đường mổ nhỏ ở ngực rồi cắt bỏ một lỗ trên màng ngoài tim để đưa lượng dịch ra ngoài.

Một biến chứng khác cần lưu ý là viêm màng ngoài tim co thắt. Đây là biến chứng xảy ra do viêm màng ngoài tim lâu ngày, kéo dài, hoặc bị viêm tái đi tái lại; điều này làm cho màng ngoài tim bị xơ cứng, vôi hóa, mất đi tính đàn hồi. Khi đó, màng ngoài tim giống như là một khung cứng bao quanh trái tim và khiến cho trái tim không co bóp hiệu quả được. Biến chứng này có thể gây ra các triệu chứng và dấu hiệu của suy tim như mệt mỏi, khó thở, phù chân, báng bụng… Để giải quyết tình trạng này, cần tiến hành phẫu thuật để cắt bỏ khoang màng ngoài tim.

Chúng ta không thể phòng ngừa viêm màng ngoài tim cấp. Tuy nhiên, việc phát hiện sớm, điều trị kịp thời và đúng cách sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ xảy ra biến chứng, nguy cơ tái phát hoặc diễn tiến thành mạn tính.

loading