Mỡ xấu, mỡ tốt và bệnh tim mạch

Vai trò của mỡ trong cơ thể

Lipid là các loại mỡ được hấp thu từ thức ăn hoặc được tổng hợp từ gan. Tất cả các loại lipid đều có vai trò sinh lý quan trọng trong cơ thể. Triglyceride có chức năng chủ yếu là dự trữ năng lượng trong mô mỡ và mô cơ. Cholesterol là thành phần của màng tế bào, hormon của tuyến thượng thận, tuyến sinh dục và acid mật. Khi thiếu những loại lipid này, cơ thể có thể sẽ có những rối loạn nghiêm trọng.

>> Xem thêm: Cỏ máu có tác dụng gì! Mua ở đâu tốt nhất hiện nay
>> Xem thêm: Lá đơn đỏ có tác dụng gì! Mua ở đâu tốt nhất hiện nay

Mỡ trong cơ thể bao gồm những dạng nào?

Tất cả các loại mỡ đều không tan trong nước và máu, vì vậy, chúng cần được gắn kết và bao bọc bởi các protein có khả năng tan trong nước. Sự gắn kết này tạo ra các lipoprotein. Như vậy, các lipoprotein là những hạt chuyên chở mỡ trong máu của chúng ta.

Dựa theo tỷ trọng, kích thước và tỷ lệ của lipid so với protein, các lipoprotein được phân chia thành các loại lipoprotein khác nhau như Chylomichron, VLDL (lipoprotein tỷ trọng rất thấp), LDL (lipoprotein tỷ trọng thấp), IDL (lipoprotein tỷ trọng trung bình), HDL (lipoprotein tỷ trọng cao). Để chỉ lượng mỡ (cholesterol) trong các hạt chúng ta dùng đơn vị nồng độ của cholesterol trong các hạt đó. Ví dụ LDL-C là từ ngữ dùng để chỉ lượng cholesterol trong các hạt lipoprotein LDL.

Bằng những phương pháp định lượng trực tiếp hay dựa vào những phép tính, chúng ta có thể có được nồng độ của các dạng mỡ trong máu. Hiện nay, một xét nghiệm về mỡ máu chuẩn là gồm có:

- Cholesterol toàn phần (phản ảnh tổng lượng cholesterol trong một đơn vị máu, viết tắt là TC).

- Triglyceride (viết tắt là TG)

- Cholesterol nằm trong LDL (phần cholesterol nằm trong các hạt LDL, viết tắt là LDL-C).

- Cholesterol nằm trong HDL (phần cholesterol nằm trong các hạt HDL, viết tắt là HDL-C).

Các hat liporotein

Các hạt lipoprotein trong máu

LDL là gì? LDL là lipoprotein tỷ trọng thấp, đây là loại lipoprotein giàu cholesterol nhất. Khoảng 40-60% LDL được đào thải ở gan qua thụ thể LDL ở gan. Thụ thể LDL bị giảm xuống khi có quá nhiều cholesterol đến gan qua chylomicron và chế độ ăn giàu chất béo bão hòa. Ngược lại, các thụ thể này sẽ tăng lên khi chế độ ăn ít béo và cholesterol. Ngoài gan, cũng có nhiều thụ thể nằm trên đại thực bào, bắt giữ LDL và hình thành tế bào bọt ở thành động mạch (thành phần của mảng xơ vữa). Người ta tìm thấy LDL trong các mảng xơ vữa động mạch. Vì vậy LDL được xem là chất béo có hại cho cơ thể, hay còn gọi là mỡ xấu.

HDL là gì? HDLlà lipoprotein tỷ trọng cao, không chứa cholesterol, được tổng hợp ở gan và tế bào ruột. Chuyển hóa HDL phức tạp, nhưng vai trò của HDL là lấy cholesterol từ các cơ quan trong cơ thể và các lipoprotein khác, chuyên chở đến những nơi cần thiết (các tế bào khác, các lipoprotein khác và gan). Tác dụng nói chung của HDL làm hạn chế mảng xơ vữa. Do vậy, HDL được xem là chất béo tốt cho cơ thể, hay còn gọi là mỡ tốt. LDL-C tạo ra mảng xơ vữa động mạch còn HDL-C “dọn dẹp” mảng xơ vữa động mạch.

Mối tương quan giữa nồng độ LDL-C (mỡ xấu), HDL-C (mỡ tốt) và bệnh tim mạch

>> Xem thêm: Sài đất có tác dụng gì! Mua ở đâu tốt nhất hiện nay
>> Xem thêm: Cây mật gấu có tác dụng gì! Mua ở đâu tốt nhất hiện nay

Rất nhiều công trình nghiên cứu cho thấy là nồng độ LDL-C liên hệ mật thiết với tử vong do bệnh tim mạch. Khi LDL-C của cộng đồng càng cao thì tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành càng cao. Những công trình nghiên cứu thực nghiệm cũng đã tìm thấy nhiều LDL-C trong các mảng xơ vữa động mạch. Quan trọng hơn nữa là khi chúng ta dùng thuốc statin để làm giảm LDL-C trong máu thì cũng làm giảm được tỷ lệ tử vong và các biến cố của bệnh tim mạch (khi dùng statin làm giảm 40mg% LDL-C trong máu thì làm giảm được 20% nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch). Chính vì những bằng chứng này mà chúng ta có thể nói rằng LDL-C là loại mỡ có hại, là loại mỡ gây xơ vữa động mạch, là loại mỡ “xấu”. Nếu làm giảm được nồng độ LDL-C 1% thì sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh động mạch vành 1%.

Rất may là chúng ta lại có một loại mỡ “tốt”, loại mỡ có lợi, loại mỡ bảo vệ thành mạch máu, chống lại xơ vữa động mạch. Đó là HDL-C. Khi chúng ta làm tăng nồng độ HDL-C 1% thì chúng ta sẽ làm giảm nguy cơ bệnh động mạch vành 3%.

Giảm ldl

Như vậy, cholesterol toàn phần không nói lên được nguy cơ bệnh tim mạch do xơ vữa. Chúng ta phải xem xét cả LDL-C và HDL-C, xem xét mối tương quan giữa 2 thành tố này. Khi cả LDL-C và HDL-C cùng cao thì sẽ không có hại bằng khi LDL-C cao mà HDL-C thấp, và trường hợp tốt nhất là khi LDL-C thấp và HDL-C cao.

loading