Chạy thận nhân tạo: Biến chứng ít gặp nhưng nguy hiểm

Mặc dù ít gặp nhưng những biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra trong chạy thận nhân tạo, đe dọa tính mạng người bệnh bao gồm: hội chứng mất cân bằng, phản ứng dị ứng, rối loạn nhịp tim, chèn ép tim, xuất huyết nội sọ, co giật, tán huyết và thuyên tắc khí.

1. Hội chứng mất cân bằng

Là một nhóm các triệu chứng toàn thân và thần kinh thường liên quan đến các dấu hiệu đặc trưng trên điện não đồ, có thể xảy ra trong hoặc sau chạy thận. Triệu chứng sớm bao gồm buồn nôn, nôn, bứt rứt, và nhức đầu. Các triệu chứng nghiêm trọng hơn bao gồm co giật, đờ đẫn và hôn mê.

Nguyên nhân còn đang được tranh luận. Hầu hết cho rằng hội chứng này liên quan đến tăng cấp tính lượng nước trong mô não. Khi nồng độ chất hòa tan trong huyết tương giảm nhanh trong lúc chạy thận, huyết tương trở nên nhược trương so với tế bào não, và nước di chuyển từ huyết tương vào mô não. Một số tác giả cho rằng tăng cấp tính pH dịch não tủy trong lúc chạy thận là nguyên nhân của rối loạn này.

Xử trí:

- Với các triệu chứng nhẹ như buồn nôn, nôn, bứt rứt, và nhức đầu không đặc hiệu chỉ điều trị triệu chứng.

- Nếu co giật, đờ đẫn hoặc hôn mê xảy ra trong lúc chạy thận, phải ngưng chạy thận. Nên kiểm soát đường thở và thông khí nhân tạo nếu cần. Mannitol truyền tĩnh mạch có thể có lợi. Nếu hôn mê do hội chứng mất cân bằng, bệnh nhân phải hồi phục trong vòng 24 giờ.
Phòng ngừa: Trong chạy thận cấp cứu, không nên chạy thận nhân tạo quá tích cực những lần đầu, có thể chạy thận thời gian ngắn 2 giờ 30 đến 3 giờ.

2. Phản ứng màng lọc

Thường gặp khi sử dụng các loại màng lọc không tương hợp sinh học, chất liệu không chuẩn, kém chất lượng.

* Phản ứng màng lọc loại A (loại phản vệ)

Triệu chứng: Khó thở, cảm giác hụt hơi, và cảm giác nóng tại FAV hoặc khắp cơ thể là những triệu chứng thường gặp. Ngưng tim và thậm chí tử vong có thể xảy ra. Những trường hợp nhẹ hơn có thể chỉ có triệu chứng ngứa ngáy, mề đay, ho, hắt hơi, chảy nước mũi hoặc chảy nước mắt. Các triệu chứng tiêu hóa như đau quặn bụng hoặc tiêu chảy cũng có thể xảy ra. Bệnh nhân có tiền căn dị ứng và/ hoặc tăng eosinophile máu dễ xuất hiện các triệu chứng này. Triệu chứng thường bắt đầu trong vòng vài phút sau chạy thận, nhưng đôi khi có thể trong vòng 30 phút hoặc hơn.

Nguyên nhân:

- Ethylene oxide: Gần đây, các nhà sản xuất đã nỗ lực tẩy ethylene oxide dư từ màng lọc, một số nhà sản xuất đã thay đổi công thức của chất bọc ngoài để giảm hấp phụ ethylene oxide trong quá trình tiệt trùng. Ngày nay, ethylene oxide ít dùng nên phản ứng với ethylene oxide trở nên hiếm gặp.

- Dịch lọc bị nhiễm bẩn: Các phản ứng loại A có thể được giải thích trong một số trường hợp bởi dịch lọc nhiễm bẩn nồng độ cao vi khuẩn và endotoxin. Sốt và ớn lạnh là những triệu chứng đặc biệt thường gặp với những phản ứng này. Nồng độ vi khuẩn và endotoxin càng cao thì nguy cơ phản ứng càng cao. Vì vậy, các máy chạy thận nhân tạo có gắn thêm bộ phận ngăn cản sự xâm nhập vi khuẩn và endotoxin sẽ giúp phòng ngừa biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Tại Trung tâm Lọc Máu kỹ thuật cao Bệnh viện Nguyễn Tri Phương có các thế hệ máy vừa hiện đại lại vừa có thêm bộ phận khử vi khuẩn và endotoxin, nhờ vậy nước sau xử trí là nước siêu tinh khiết, tạo an toàn tối đa cho bệnh nhân lọc thận.

- Màng lọc được sản xuất không chuẩn, chất liệu không tinh khiết, không tương hợp sinh học hoặc sử dụng lại màng lọc: Một nhóm các phản ứng màng lọc kiểu phản vệ đã xảy ra khi sử dụng lại màng lọc, trong nhiều trường hợp nguyên nhân không rõ. Phân nửa số trường hợp bùng phát du khuẩn huyết hoặc phản ứng gây sốt ở bệnh nhân chạy thận theo khảo sát của CDC trong 20 năm qua được cho là do sử dụng lại màng lọc (Roth and Jarvis, 2000).

- Heparin: Heparin đôi khi liên quan đến các phản ứng dị ứng, bao gồm mề đay, nghẹt mũi, khò khè, thậm chí phản vệ.

- Tăng eosinophile máu: Phản ứng loại A có khuynh hướng xảy ra dễ hơn ở những bệnh nhân tăng eosinophile nhẹ - trung bình.

Xử trí: Xác định đúng nguyên nhân của phản ứng màng lọc thường không thực hiện được. An toàn nhất là ngưng chạy thận ngay, kẹp đường máu lại, bỏ màng lọc và dây chạy thận, không trả máu. Có thể cần hồi sức tim phổi ngay. Tùy theo độ nặng của phản ứng, có thể dùng
antihistamine, steroids, và epinephrine đường tĩnh mạch. Không nên chọn lựa các loại màng lọc quá rẻ tiền, được sản xuất bởi các nhà sản xuất không có uy tính hoặc các nước không thuộc nhóm G7.

Phòng ngừa: Đối với mọi bệnh nhân, mồi màng đúng cách trước khi dùng là quan trọng để loại bỏ ethylene oxide dư và các dị ứng nguyên khác.

* Phản ứng màng lọc loại B không đặc hiệu

Triệu chứng: Các triệu chứng chính của phản ứng loại B là đau ngực, đôi khi kèm theo đau lưng. Khởi đầu triệu chứng thường 20-40 phút sau khi bắt đầu chạy thận.

Nguyên nhân: Nguyên nhân chưa được biết.

Xử trí: Xử trí là nâng đỡ. Nên cho thở ôxy. Nên loại trừ thiếu máu tim cục bộ, và đau thắt ngực. Có thể tiếp tục chạy thận, do triệu chứng luôn giảm sau giờ đầu tiên.

Phòng ngừa: Thử dùng một loại màng lọc khác.

3. Rối loạn nhịp tim

Rối loạn nhịp trong chạy thận thường gặp, đặc biệt ở bệnh nhân đang dùng digitalis và bệnh nhân có bệnh mạch vành.

4. Chèn ép tim

Tụt huyết áp bất ngờ hoặc tái đi tái lại trong chạy thận có thể là dấu chứng của tràn dịch màng tim hoặc chèn ép tim sắp xảy ra.

5. Xuất huyết nội sọ

Bệnh lý mạch máu nền tảng và tăng huyết áp kết hợp với dùng heparin đôi khi có thể gây xuất huyết nội sọ, dưới màng nhện hoặc dưới màng cứng trong buổi chạy thận.

Chạy thận nhân tạo và những biến chứng

6. Co giật

Trẻ em, bệnh nhân có nồng độ urê máu cao trước chạy thận, và bệnh nhân tăng huyết áp nặng là những người dễ co giật nhất trong chạy thận. Co giật có thể là một triệu chứng của hội chứng mất cân bằng.

7. Tán huyết

Tán huyết cấp trong chạy thận có thể là một cấp cứu nội khoa.

Triệu chứng: Các triệu chứng của tán huyết gồm đau lưng, nặng ngực và khó thở.

Hậu quả của tán huyết: nếu tán huyết lượng lớn không được phát hiện sớm, kali máu tăng do phóng thích từ hồng cầu bị vỡ, gây yếu cơ, bất thường điện tâm đồ, và cuối cùng là ngưng tim.

Nguyên nhân: Tán huyết cấp đã được báo cáo trong hai tình huống chính: tắc nghẽn hoặc hẹp dây máu, catheter hoặc kim; và dịch lọc có vấn đề.

Với trường hợp tắc/hẹp dây máu, theo dõi thường quy áp lực dây máu sẽ báo hiệu những vấn đề này, tuy không phải trong mọi trường hợp.

Xử trí: Ngay lập tức ngưng bơm máu và kẹp dây máu. Máu ly giải có rất nhiều kali, không nên truyền lại cho bệnh nhân. Chuẩn bị điều trị tăng kali máu và giảm Hct. Bệnh nhân nên được theo dõi sát và xem xét nhập viện. Nên chọn lựa dây dẫn máu, kim chích, dịch lọc được sản xuất từ các nước có nền y học tiên tiến.

8. Thuyên tắc khí

Thuyên tắc khí là một tai họa tiềm ẩn có thể gây tử vong nếu không được phát hiện và điều trị nhanh chóng.

Triệu chứng: Phụ thuộc một phần vào vị trí của bệnh nhân. Ở bệnh nhân ngồi, khí có khuynh hướng đi vào tĩnh mạch não mà không vào tim, gây tắc nghẽn đường về của tĩnh mạch não, gây hôn mê, co giật, thậm chí tử vong. Ở bệnh nhân nằm, khí có khuynh hướng đi vào tim, tạo bọt trong thất phải, đi vào phổi gây khó thở, ho, nặng ngực và loạn nhịp.

Nguyên nhân: Các vị trí khí lọt vào thường gặp nhất là kim ở đường máu động mạch, đoạn dây trước bơm, và catheter để mở.

Xử trí: Bước đầu tiên là kẹp đường tĩnh mạch lại và ngưng bơm máu. Bệnh nhân được đặt ngay ở tư thế nằm nghiêng trái, ngực và đầu cúi thấp. Sau đó là hỗ trợ hô hấp tuần hoàn. Hút khí ra khỏi tâm nhĩ hoặc tâm thất bằng kim đâm qua da hoặc catheter thông tim có thể cần thiết nếu thể tích khí lớn.

9. Mất thị lực và thính lực:

Mù thoáng qua ở bệnh nhân tăng nhãn áp và mất thính lực do tràn nội dịch ở tai trong đã được báo cáo có xảy ra trong lúc chạy thận. Các biến chứng của heparin (tai trong, xuất huyết thể kính hoặc võng mạc) có thể gây triệu chứng lâm sàng tương tự. Tụt huyết áp trong lúc chạy thận hoặc những biến cố mạch máu không liên quan cũng có thể làm biến đổi chức năng thị và thính giác.

10. Hội chứng ống cổ tay, bệnh nhiễm amyloid:

Các biến chứng này thường gặp nơi bệnh nhân chạy thận lâu dài bằng các màng lọc có độ lọc thấp, sử dụng lại màng lọc, nước lọc thận không được xử trí tốt gây sự lắng đọng trong cơ thể các chất beta-2 micrpglobulin, các endotoxin...

loading