Chạy thận nhân tạo và điều trị suy thận

Khi bệnh nhân bị suy thận giai đoạn cuối (nghĩa là cả hai thận đã mất chức năng hoàn toàn) thì nước và các chất dư thừa sẽ tích tụ lại trong cơ thể người bệnh ngày càng nhiều, nếu không được điều trị thay thế thận, người bệnh sẽ bị nguy hiểm đến tính mạng. Để cứu sống và duy trì sự sống dài lâu của người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối, cần có một biện pháp điều trị thay thế thận lâu dài cho người bệnh.

Hiện nay, trên thế giới có ba phương pháp điều trị thay thế thận được áp dụng bao gồm: ghép thận, chạy thận nhân tạo định kỳ, lọc màng bụng hay còn gọi là thẩm phân phúc mạc. Trong ba phương pháp này thì chạy thận nhân tạo là phương pháp được lựa chọn nhiều nhất vì hiệu quả tương đối cao và chi phí có thể chấp nhận.

chạy thận nhân tạo

Vậy chạy thận nhân tạo (CTNT) là gì?

Chạy thận nhân tạo là quá trình lọc máu ngoài cơ thể, trong đó máu được rút ra khỏi cơ thể qua cầu nối thông động tĩnh mạch (hay còn gọi là AVF- Ateriovenous Fistula) đến một màng bán thấm (gọi là màng lọc hay quả lọc).

Dịch lọc là dung dịch được bào chế sẵn, được bơm từ hướng ngược lại với dòng máu ở bên kia màng để tạo ra sự chênh lệch nồng độ các chất, nhờ vậy nước và các chất độc được loại thải qua cơ chế khuếch tán và siêu lọc. Sau đó “máu sạch” được trả về cơ thể người bệnh.
Thành phần dịch lọc gồm các chất điện giải và nước. Chất điện giải có các nồng độ khác nhau tùy thuộc vào tình trạng khác nhau của từng bệnh nhân. Thông thường, bệnh nhân được lọc máu 3 lần/tuần, mỗi lần kéo dài 4-6 giờ. Quá trình này chỉ thay thế khoảng 10% chức năng của một thận bình thường. Mỗi lần CTNT trung bình sử dụng khoảng 120-160 lít nước. Nước sử dụng không được nhiễm bẩn và phải được tinh chế thông qua cơ chế thẩm thấu ngược (Reverse osmosis - RO) có thể tăng cường thêm một màng lọc các nội độc tố sinh ra do các vi khuẩn còn sót lại sau khi đã đi qua hệ thống thẩm thấu ngược.

xem thêm: Suy thận mạn: Triệu chứng và biến chứng

Cơ chế hoạt động của một quá trình CTNT: 1) Máu được bơm ra khỏi bệnh nhân, thường thông qua một cầu nối động tĩnh mạch 2) Thuốc chống đông được bơm liên tục để ngăn chặn sự đông máu 3) Máu được thẩm tách bởi một màng bán thấm 4) Máu sạch được bơm trở lại cơ thể.

các chạy thận

Khi nào bệnh nhân cần được điều trị Chạy thận nhân tạo?

Việc CTNT thường được bắt đầu ở những bệnh nhân có bệnh thận mạn tính giai đoạn 5 với độ lọc cầu thận ước tính (eGFR) nhỏ hơn 15ml/phút/1.73m2 da và có triệu chứng tăng ure huyết (buồn nôn, nôn, sụt cân, tiêu chảy, ngứa...), nhiễm toan chuyển hóa, tăng kali máu, phù phổi mà không đáp ứng với điều trị nội khoa. Ngưỡng bắt đầu lọc máu cũng phụ thuộc vào các bệnh lý kèm theo khác. Ví dụ, bệnh nhân có bệnh thận mạn tính và bệnh đái tháo đường thường phát triển sớm chứng tăng ure huyết với các triệu chứng như trên, dẫn đến một ngưỡng cao hơn để bắt đầu lọc máu.

Bệnh nhân cần biết gì và chuẩn bị gì khi chạy thận nhân tạo?

Quá trình CTNT đòi hỏi bệnh nhân phải có một đường mạch máu lớn để rút máu ra khỏi cơ thể với tốc độ đủ để quá trình lọc đạt hiệu quả, trung bình khoảng 250ml/ phút. Hiện nay, có hai cách để lấy máu ra khỏi cơ thể người bệnh để CTNT: từ nối thông động- tĩnh mạch đã được chuẩn bị từ trước đó hơn 6 tuần hoặc từ 1 ống catheter luồn vào tĩnh mạch lớn của bệnh nhân, thường được lựa chọn nhất là tĩnh mạch cảnh trong hoặc tĩnh mạch đùi trong trường hợp cần CTNT cấp cứu.

Tuy nhiên, catheter không đặt lâu được trong cơ thể người bệnh vì nguy cơ nhiễm trùng. Vi khuẩn từ bên ngoài có thể xâm nhập vào cơ thể người bệnh thông qua catheter vào máu, gây nhiễm trùng huyết. Nếu không phát hiện kịp thời, nhiễm trùng có thể lan rộng và trầm trọng khiến người bệnh tử vong. Vậy nên, để việc CTNT được lâu dài, chỉ có cầu nối thông động tĩnh mạch là tiện lợi, ít xâm lấn nhất với người bệnh. Thật “không ngoa” khi người ta ví von nối thông động tĩnh mạch là đường sinh mệnh của bệnh nhân bệnh thận mạn tính CTNT.
Chính vì vậy, người bệnh cần được tham vấn bởi những bác sĩ chuyên khoa thận học - lọc máu khi bệnh thận mạn của mình bước sang giai đoạn 4, nghĩa là độ lọc cầu thận ước tính (eGFR) giảm xuống mức nhỏ hơn 30 ml/ phút/ 1.73 m2 da. Người bệnh cần được tham vấn về các phương pháp điều trị thay thế thận, lợi ích cũng như nguy cơ của từng phương pháp và từ đó chọn cho mình một phương pháp thích hợp nhất về hiệu quả, khả năng thực hiện và kinh tế bản thân, cũng như sự trợ giúp từ gia đình để có sự chuẩn bị cho từng phương pháp.

chạy thận

Trong trường hợp người bệnh chọn CTNT, việc chuẩn bị cầu nối thông động tĩnh mạch khi bệnh thận mạn bước sang giai đoạn 5 là rất quan trọng, để có sẵn đường mạch máu khi cần CTNT vì nếu không bắt buộc phải lọc máu tạm thời qua catheter đặt trong tĩnh mạch lọc đã nói ở trên, việc đặt này có thể có những biến chứng nặng như chảy máu, tràn khí-máu màng phổi, thậm chí có thể đe dọa tính mạng. Ngoài ra, việc tuân thủ điều trị và chế độ ăn uống; chuẩn bị tâm lý để chấp nhận bệnh tật, học cách thích nghi, và có thái độ lạc quan cũng không kém phần quan trọng giúp người bệnh thận mạn CTNT có sức khỏe và chất lượng sống tốt hơn.

Theo các chuyên gia thận học hàng đầu Nhật Bản, nước có tỷ lệ bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối lựa chọn phương pháp điều trị bằng CTNT cao nhất trên thế giới, cho biết người bệnh thận mạn CTNT nếu được chuẩn bị tốt ngay từ đầu, tuân thủ chế độ ăn và điều trị của bác sĩ kết hợp CTNT đầy đủ có thể kéo dài sự sống đến 10-30 năm mà vẫn sinh hoạt và làm việc bình thường. Thật may mắn vào ngày 12/8/2016 vừa qua Khoa Thận học - Lọc máu Bệnh viện Nguyễn Tri Phương dưới sự dẫn dắt của PGS.TS.BS Phạm Văn Bùi, được sự hỗ trợ của tập đoàn có kinh nghiệm hơn 30 năm về lĩnh vực CTNT kỹ thuật cao - TUC Nhật Bản đã thành lập và đưa vào hoạt động thành công Trung tâm Lọc Máu kỹ thuật cao đầu tiên tại Việt Nam. Đó là một sự nỗ lực rất lớn với mong mỏi mang lại sức khỏe và chất lượng sống tốt nhất cho người bệnh thận mạn giai đoạn cuối.

loading