Có thể chữa khỏi suy thận mạn?

Dù với sự tiến bộ vượt bậc của y học trong nhiều lãnh vực, hiện nay vẫn chưa có một phương pháp nào giúp điều trị khỏi hoàn toàn suy thận mạn (STM). Tuy nhiên, một khi không may đã bị STM, đặc biệt khi bệnh được phát hiện ở giai đoạn sớm, với chế độ theo dõi khắt khe, xử trí, sinh hoạt thích hợp, diễn tiến STM có thể được làm chậm lại và có thể phòng ngừa được các biến chứng bất lợi trên các cơ quan và trên tiên lượng lâu dài của người bệnh. Dưới đây là các phương pháp đã và đang được áp dụng trong điều trị suy thận mạn.

Điều trị bệnh thận mãn:

Mục đích chính là làm chậm diễn tiến của STM và phòng ngừa hay hạn chế biến chứng của STM trên các cơ quan, gồm điều trị tích cực nguyên nhân gây STM, kiểm soát tốt huyết áp, ổn định đường huyết, điều trị thiếu máu, rối loạn mỡ máu, rối loạn phốt pho-canxi, tránh sử dụng thuốc bừa bãi, chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng thích hợp, theo dõi bệnh định kỳ, đều đặn.

Điều trị thay thế thận:

Khi STM đã tiến triển đến giai đoạn cuối, chức năng thận gần như đã mất hết, bệnh nhân sẽ tử vong trong một thời gian rất ngắn nếu không được điều trị. Song, các điều trị này chỉ nhằm thay thế một phần hay phần lớn chức năng của thận khi còn bình thường chứ không thể giúp hồi phục lại chức năng thận đã mất, vì vậy, người bệnh bắt buộc phải theo đuổi các điều trị này suốt đời. Hiện có hai phương pháp điều trị thay thế thận chính là ghép thận và lọc máu.

Ghép thận là phương pháp điều trị lý tưởng nhất vì người bệnh được ghép vào cơ thể một quả thận thật từ người cho có một mức độ tương hợp nào đó về mặt miễn dịch với họ.

Vì thận ghép là quả thận thật nên sẽ đảm nhiệm được tất cả các chức năng của nó.

xem thêm: Lọc màng bụng (Thẩm phân phúc mạc)

Tuy nhiên, sau khi được ghép thận thành công, không phải là đã đủ, mà để cho quả thận ghép này hoạt động lâu dài, người bệnh bắt buộc phải theo đuổi suốt đời các điều trị nghiêm ngặt sau ghép như thuốc chống thải ghép, tim mạch, tiểu đường… Ngoài ra, trong giai đoạn hậu ghép còn có rất nhiều biến chứng có thể xảy ra như loại thải thận đã ghép, nhiễm trùng, tăng huyết áp, tiểu đường, ung thư…

Lọc máu ngoài thận chỉ thay thế được một phần chức năng của thận, gồm hai phương pháp chính đó là chạy thận nhân tạo và thẩm phân phúc mạc (hay lọc màng bụng).

chạy thận nhân tạo

- Chạy thận nhân tạo: Trong phương pháp này, máu người bệnh được đưa ra khỏi cơ thể rồi đi qua một màng lọc nhân tạo. Tại đây, các chất độc tích tụ trong máu (do thận bị suy không lọc được) sẽ được loại thải ra, đồng thời các rối loạn nước-điện giải và thăng bằng
kiềm-toan trong cơ thể sẽ được điều chỉnh về mức gần bình thường. Máu “sạch” sẽ được đưa trở lại vào cơ thể. Người bệnh được điều trị bằng thận nhân tạo bắt buộc phải đến bệnh viện 2-3 lần/tuần, mỗi lần 4-5 giờ để được lọc máu, song song đó phải có chế độ ăn uống rất nghiêm ngặt để tránh các biến chứng nguy hiểm như tăng kali máu (có thể gây tử vong đột ngột) hay thừa nước quá nhiều (gây ứ nước trong phổi khiến bệnh nhân không thở được, suy tim…). Ngoài ra, nguy cơ bị nhiễm HIV, viêm gan siêu vi B, C rất cao do bị lây nhiễm chéo giữa các bệnh nhân trong lúc chạy thận nhân tạo.

xem thêm: điều trị bệnh thận bằng y học cổ truyền

- Thẩm phân phúc mạc hay lọc màng bụng: Tác dụng điều trị của phương pháp này giống như chạy thận nhân tạo nhưng thay vì dùng màng lọc nhân tạo thì trong thẩm phân phúc mạc, chúng ta sẽ dùng chính phúc mạc - màng bụng của bệnh nhân (lớp mỏng lót mặt trong ổ bụng) để lọc các chất độc và điều chỉnh nước-điện giải và thăng bằng kiềm-toan cho cơ thể.

Bệnh nhân theo phương pháp này sẽ không cần đến bệnh viện thường xuyên mà có thể tự điều trị tại nhà, ăn uống tương đối tự do hơn so với chạy thận nhân tạo, cũng do tự điều trị tại nhà nên không bị hiện tượng lây nhiễm chéo HIV, viêm gan siêu vi B, C giữa các bệnh nhân như trong chạy thận nhân tạo. Phương pháp này đặc biệt thuận tiện cho các bệnh nhân ở xa các trung tâm chạy thận nhân tạo.

Tuy nhiên, phương pháp này không an toàn nếu người bệnh không tuân thủ nghiêm ngặt quy trình thay đổi dịch lọc, các biến chứng cũng không ít như nhiễm trùng ổ bụng, rối loạn đường máu, mỡ máu, béo phì hoặc suy dinh dưỡng (thường gặp hơn)... Mặt khác, màng bụng sẽ mất dần chức năng lọc theo thời gian, nhiễm trùng ổ bụng, dùng dung dịch có nồng độ đường càng cao càng làm cho chức năng màng bụng bị giảm nhanh. Thêm vào đó, trong khoảng 60% trường hợp màng bụng sẽ không còn sử dụng được nữa sau 5 năm và bệnh nhân phải chuyển qua chạy thận nhân tạo dù không bị nhiễm trùng hoặc không dùng dung dịch có nồng độ cao.

Cũng cần nhấn mạnh là lọc máu bằng thận nhân tạo hay thẩm phân phúc mạc chỉ điều chỉnh một phần các rối loạn do suy thận gây ra, nên song song với lọc máu, bệnh nhân rất cần có các điều trị khác để điều chỉnh thêm những gì mà lọc máu không làm được như thiếu máu, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu…, chỉ như vậy thì chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân lọc máu mới có thể tốt được. Mỗi phương pháp trên đều có những chỉ định và chống chỉ định riêng tùy theo tình trạng bệnh lý cũng như yêu cầu của bệnh nhân. Qua trao đổi giữa thầy thuốc và người bệnh, phương pháp thích hợp và tối ưu nhất sẽ được lựa chọn cho từng trường hợp cụ thể.

loading