Những bệnh nào có thể gây suy thận?

bệnh thận mạn được xem là một trong những bệnh không lây đang “bùng nổ” trên thế giới. Theo dữ liệu về bệnh thận năm 2008 tại Mỹ, chỉ trong vòng mười năm, bệnh nhân mắc bệnh thận mạn đã tăng lên 20% và chiếm hơn 11,5% dân số. Nói cách khác, cứ trong mười người Mỹ thì có một người bị bệnh thận. Tỷ lệ này ở châu Âu cũng tương tự, còn ở châu Á thì thậm chí còn cao hơn. Ở Việt Nam, rất tiếc chưa có một thống kê đầy đủ về vấn đề sức khỏe cộng đồng này, nhưng điều chắc chắn là sẽ không thể thấp hơn các nước khác.

Y học hiện nay thường dùng “bệnh thận mạn” thay cho “suy thận mạn”, vì suy thận mạn có nghĩa là có suy giảm chức năng thận, song trước khi có suy giảm chức năng thận, thận đã bị những tổn thương biểu hiện trong nước tiểu, máu hay cấu trúc khi làm sinh thiết thận, và nếu phát hiện thận ở giai đoạn này, khi chưa có suy giảm chức năng thận, bệnh thận có cơ may điều trị khỏi cao, còn khi để bệnh tiến triển gây suy giảm chức năng thận thì cơ may điều trị được sẽ giảm hoặc không còn có thể điều trị giúp thận hồi phục chức năng được nữa.

Cơ quan nào tổn thương cũng gây suy thận

Thận được gọi là “cơ quan đích”, nghĩa là không chỉ khi tại hệ thận-niệu xuất hiện bệnh lý thận mới bị tổn thương, mà khi bất cứ cơ quan nào trong cơ thể bị tổn thương thì cũng đều có thể gây ra tổn thương ở thận. Bởi vậy, không khó hiểu khi các bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, viêm cầu thận, các bệnh lý nhiễm trùng, các bệnh miễn dịch, bệnh bẩm sinh hệ niệu… cũng đều có thể tác động xấu lên thận.

Không chỉ vậy, các chất độc trong không khí, trong môi trường; thức ăn, thức uống cũng có thể tấn công trực tiếp và gây tổn thương thận. Dược chất cũng góp phần không nhỏ gây tổn thương thận, nhất là khi dùng các loại thuốc nam, thuốc bắc không rõ nguồn gốc, không đúng chỉ định vì trong các dược chất này thường chứa chất axít aristodochic, arsenic và nhiều chất khác rất độc cho thận, gây suy giảm chức năng thận, và còn có thể gây ung thư đường niệu; hóa chất, phẩm màu, thuốc hút… cũng có tác động tương tự.

xem thêm: Tiểu nóng tiểu buốt bệnh gì?

Tại các nước phát triển, đái tháo đường và tăng huyết áp đang là những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh thận mạn và suy thận mạn. Trong quá khứ, ở các nước đang phát triển như Việt Nam thì nguyên nhân gây bệnh thận mạn/suy thận mạn lại tập trung vào các nguyên nhân như viêm vi cầu thận, các bệnh lý nhiễm trùng, tuy nhiên, đái tháo đường và tăng huyết áp cũng đang gia tăng gây biến chứng bệnh thận mạn/suy thận mạn vì Việt Nam là một trong các nước hiện nay có tỷ lệ bệnh đái tháo đường tăng nhanh nhất trên thế giới.

Điều cần nhấn mạnh là hiện nay y học thường xếp tim và thận chung trong cùng một hệ thống gọi là hệ thống tim - thận vì cả hai cơ quan đều cùng có thể bị tấn công và gây bệnh bởi các yếu tố nguy cơ chung như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn mỡ máu, hút thuốc… Thêm vào đó, khi có tổn thương thận, lại xuất hiện thêm nhiều biến chứng do bản thân bệnh thận gây ra như thiếu máu, rối loạn chất điện giải, thăng bằng kiềm-toan xáo trộn, rối loạn các chất phốt pho, canxi, tuyến cận giáp gây các bệnh hệ cơ xương khớp, làm nặng thêm bệnh tim mạch… Hai cơ quan tim-thận có thể tương tác lẫn nhau, bệnh cơ quan này thường gây biến chứng lên cơ quan kia, một khi cơ quan kia đã bị biến chứng lại làm bệnh cơ quan này nặng hơn và khó điều trị hơn. Bệnh nhân bệnh thận mạn sẽ gặp các nguy cơ: khả năng tử vong tăng gấp 5 lần trước khi bệnh diễn tiến đến giai đoạn cuối, tăng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ 35-100% và tăng khả năng nhập viện gấp 5 lần. Ngược lại, các bệnh nhân có tăng huyết áp, suy tim, nhồi máu cơ tim có hay không có can thiệp mạch vành (mổ bắc cầu, đặt stent) thì sớm muộn cũng sẽ bị biến chứng trên thận, nhất là khi không được theo dõi và điều trị toàn diện, kết hợp bởi các bác sĩ chuyên khoa.

suy thận mạn

Suy thận mạn tiến triển âm thầm, tổn thương thận không thể hồi phục

Bệnh thận mạn có thể biểu hiện bằng suy thận mạn, trong đó có sự suy sụp không hồi phục chức năng của cả hai quả thận và bệnh sẽ luôn ngày càng tiến triển nặng hơn. Quá trình bệnh có thể chậm và kéo dài trong nhiều năm hoặc rất nhanh chỉ trong vài tháng bệnh đã chuyển sang giai đoạn cuối nếu nguyên nhân gây suy thận mạn không khống chế được hoặc không được điều trị đúng đắn. Trong nhiều trường hợp, bệnh tiến triển thầm lặng, chỉ được phát hiện tình cờ khi thử sinh hóa máu hay nước tiểu, làm siêu âm để kiểm tra sức khỏe tổng quát hay vì một bệnh lý khác. Đôi khi, khi phát hiện được thì suy thận mạn đã ở giai đoạn nặng không thể điều trị bảo tồn nội khoa và bệnh nhân sẽ không thể sống được nếu không lọc máu hay ghép thận.

xem thêm: Có thể chữa khỏi suy thận mạn?

Cái khó trong phát hiện bệnh thận mạn/suy thận mạn là các triệu chứng xuất hiện đều không điển hình như: mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn, xanh xao, cảm giác ngộp thở, phù, tăng huyết áp, tiểu nhiều…, những triệu chứng này cũng có thể gặp trong rất nhiều bệnh lý khác.

suy thận

Ở giai đoạn sớm, bệnh thận mạn hoàn toàn không có triệu chứng, kể cả chức năng thận vẫn còn bình thường mà chỉ biểu hiện bằng các bất thường của nước tiểu, thường gặp nhất là sự hiện diện của chất albumin hay đạm trong nước tiểu với số lượng của chúng tương ứng mới mức độ tổn thương thận cũng như nguy cơ bị các biến chứng trầm trọng khác như tim mạch, thần kinh… Khi phát hiện các bất thường này ở giai đoạn càng sớm với số lượng càng ít thì hy vọng chữa khỏi, khống chế hay làm chậm sự tiến triển bệnh thận mạn, hay phòng ngừa các biến cố tim mạch, thần kinh càng cao.

loading