Suy thận mạn: Triệu chứng và biến chứng

Suy thận mạn (STM) là sự suy sụp không hồi phục chức năng của cả hai thận, STM rất thường gặp trong y học. Theo thống kê, ở châu Âu có đến 30 triệu người suy giảm chức năng thận và ở Mỹ có 20 triệu người bị với 8 triệu người có suy giảm chức năng thận từ vừa tới nặng.

Nguyên nhân và biểu hiện lâm sàng:

Nguyên nhân STM có thể là do bệnh lý của chính thận-hệ niệu (như viêm vi cầu thận, nhiễm trùng niệu, sỏi niệu, bẩm sinh..) hay là do các bệnh lý toàn thân khác gây biến chứng và làm tổn thương chức năng của cả hai thận (như đái tháo đường, cao huyết áp, bệnh lupus ban đỏ, dược chất, nhất là các loại thuốc nam, thuốc bắc, môi trường ô nhiễm, thực phẩm độc hại…).

Triệu chứng và biến chứng

Tổn thương chức năng thận trong STM không bao giờ hồi phục, luôn luôn tiến triển và ngày càng nặng hơn. Trong nhiều trường hợp, bệnh tiến triển rất thầm lặng, chỉ được phát hiện tình cờ khi thử máu để kiểm tra sức khỏe tổng quát hay vì một bệnh lý khác.

Các triệu chứng của STM không điển hình như mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn, xanh xao, cảm giác ngộp thở, phù, cao huyết áp, đái tháo đường…, những triệu chứng này có thể gặp trong rất nhiều bệnh lý khác.

xem thêm: Có thể chữa khỏi suy thận mạn?

Chẩn đoán suy thận mạn:

Suy thận mạn được chẩn đoán chính xác nhất bằng đo độ lọc cầu thận (GFR). Do kỹ thuật đo GFR tương đối phức tạp, nên thông thường người ta dựa vào trị số của chất creatinin huyết thanh để lượng giá chức năng thận, điều đáng tiếc là creatinin chỉ có thể thay đổi một khi chức năng thận đã giảm thấp hơn 50% của bình thường. Trị số bình thường của creatinin ở người lớn là 80 -120 µmol/l
(hay 9,04 -13,5mg/l ) tùy theo phòng xét nghiệm.

Dựa theo creatinin, người ta chia STM thành ba mức độ: nhẹ (creatinin= 100 - 150 µmol/l), vừa (150 - 300 µmol/l), và nặng (300 - 600 µmol/l).

Biến chứng suy thận mạn:

Suy thận mạn là hội chứng lâm sàng gây tổn thương đa cơ quan; bệnh thận mạn càng tiến triển, tổn thương các cơ quan càng nhiều và càng nặng như:

- Tăng huyết áp, suy tim, dầy thất trái, rối loạn nhịp tim, thiếu máu/nhồi máu cơ tim, viêm màng ngoài tim, phù phổi, thiếu máu, rối loạn mỡ máu, xơ vữa-xơ cứng mạch máu.

- Tổn thương hệ cơ-xương (xốp xương, mềm xương, teo cơ…).

- Tổn thương chức năng nội tiết, tình dục (hiếm muộn, bất lực, kinh nguỵệt bất thường...).

- Tổn thương thần kinh trung ương (giảm trí nhớ, khó tập trung tư tưởng, ngủ gà, lơ mơ, lú lẫn, co giật, hôn mê...).

- Tổn thương thần kinh ngoại biên (cảm giác dị cảm, nóng bỏng, kiến bò, giảm sức cơ, yếu hạ chi...).

- Giảm sản xuất hồng cầu từ tủy xương, giảm đời sống hồng cầu gây thiếu máu, da xanh tái.

- Tổn thương hệ tiêu hóa (chán ăn, buồn nôn, nôn, táo bón, tiêu chảy, xuất huyết tiêu hóa...).

- Tổn thương hệ miễn dịch: giảm sức đề kháng cơ thể, dễ bị nhiễm trùng (viêm phổi...).

- Tổn thương ngoài da (ngứa, bầm máu dưới da, da xám sạm...).

loading