Chế độ ăn điều trị bệnh đái tháo đường

● BS. Nguyễn Thị Ánh Vân
Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM

Chế độ ăn hợp lý là một trong những biện pháp nền tảng để kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường; ngoài giữ ổn định được lượng đường trong máu, việc ăn uống đúng còn giúp người bệnh phòng ngừa các biến chứng do đái tháo đường gây ra như cơn hạ đường huyết, suy thận, mù lòa, các biến cố về tim mạch. Đã có nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh người bệnh đái tháo đường týp 2 có thể kiểm soát tốt lượng đường trong máu chỉ nhờ chế độ ăn và tập luyện mà không cần dùng thuốc hoặc có thể giảm liều thuốc, thậm chí có thể ngưng thuốc.

Về dinh dưỡng, không có thực đơn chung cho tất cả người bệnh đái tháo đường mà tùy thuộc vào nhiều yếu tố: nhu cầu năng lượng (số kcal), thói quen ăn uống, văn hóa, nguồn thực phẩm sẵn có, khả năng kinh tế của người bệnh.

Vì vậy, khi bị đái tháo đường, người bệnh cần biết một số nguyên tắc trong xây dựng chế độ ăn hợp lý để điều trị bệnh bao gồm:

1. Chỉ ăn vừa đủ theo nhu cầu của mỗi người

 đó chính là số kcal trong khẩu phần ăn hằng ngày dựa vào nhu cầu về cân nặng, mức độ lao động, tuổi tác và giới tính.

Cách tính nhanh như sau:

     
Mức độ lao động      Nữ     Nam
Nhẹ     25kcal/kg/ngày       30kcal/kg/ngày
Trung bình     30kcal/kg/ngày       35kcal/kg/ngày
Nặng     40kcal/kg/ngày       45kcal/kg/ngày

2. Bữa ăn cần đủ các thành phần dưỡng chất

chất tinh bột, chất đạm, chất béo, chất xơ, các vitamin A, B, C, D, E, K, các khoáng chất sắt, kẽm, canxi, phốt pho, magne, iốt...). Muốn đảm bảo nguyên tắc này, thực đơn nên kết hợp nhiều loại thực phẩm (15-20 loại).

Một số lưu ý khi chọn lựa thực phẩm:

- Thực phẩm nhóm bột đường ảnh hưởng nhiều nhất đến lượng đường trong máu sau bữa ăn. Các loại bột đường khác nhau sẽ làm tăng đường trong máu ở mức độ khác nhau. Thuật ngữ “chỉ số đường huyết” viết tắt là GI (glycemic index) nhằm chỉ khả năng làm tăng đường máu sau khi ăn của mỗi loại thức ăn đó. Ngoài ra, số lượng bột đường trong bữa ăn cũng có vai trò quan trọng lên mức đường huyết sau ăn.

+ Một loại thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp nhưng ăn với số lượng lớn cũng làm tăng đường huyết tương đương khi ăn một loại thực phẩm có chỉ số đường huyết cao nhưng chỉ ăn với số lượng rất ít, đó là khái niệm về tải đường huyết (glycemic load GL)
GL = GI/100 x lượng bột đường trong thực phẩm.

       
  Thấp Trung bình Cao
Chỉ số đường huyết < 56 56 - 69 > 69
Tải đường huyết < 10 10 - 19 > 19

Ví dụ: GI của chuối là 52 nếu ăn 1 trái chuối nhỏ có 15g bột đường thì GL là 7.8 trong khi GI của táo là 38, nếu ăn 1 trái táo có 30g bột đường thì GL = 11.4

+ Vì vậy, với nhóm thực phẩm giàu bột đường, người bệnh chỉ nên ăn vừa đủ số lượng theo nhu cầu và biết cách chuyển đổi thực phẩm trong nhóm để tránh ăn dư quá nhiều. Ví dụ: 1 chén cơm (150g) chuyển đổi tương đương 1 chén bún tươi (170g).

+ Nên luôn chọn thực phẩm có GI thấp, ăn vừa đủ thực phẩm có GI trung bình và ăn ít thực phẩm có GI cao.

- Nên chọn chất béo có nguồn gốc từ thực vật như dầu đậu nành, dầu mè, dầu ôliu, các loại hạt giàu béo như đậu phộng, mè, hạt điều hoặc trái bơ.

- Nên ăn cá thường xuyên hơn thịt, nên ăn các loại đậu hoặc đậu hũ thay thế thịt, ngoài cung cấp chất đạm, cá và đậu còn cung cấp thêm các chất béo thiết yếu cơ thể không thể tự tổng hợp được như omega-3, omega-6, DHA. Chỉ nên ăn các loại thịt nạc bỏ da.

- Cần ăn đủ các loại rau quả tươi, tối thiểu 400g rau các loại mỗi ngày. Đây là nguồn thực phẩm chứa nhiều chất xơ và vitamin.

+ Chất xơ giúp thức ăn lưu tại đường tiêu hóa lâu hơn, làm chậm hấp thu đường vào máu, thải bớt cholesterol trong bữa ăn, phòng chứng táo bón ở người lớn tuổi.

+ Các loại trái cây nên rửa sạch, gọt vỏ ăn cả xác để cung cấp thêm hàm lượng xơ cho cơ thể, tránh chỉ ép lấy nước để uống.

xem thêm: Dùng thuốc Đông y chữa bệnh tiểu đường như thế nào

3. Các thực phẩm nên tránh hoặc hạn chế

- Đường mía tinh luyện, các thức ăn chứa nhiều đường như mật ong, các loại nước ngọt, nước ép trái cây có đường, bánh kẹo, mứt, chè... vì các thực phẩm này làm đường trong máu tăng rất cao sau khi ăn.

Tuy nhiên, trong một số món ăn như canh chua, thịt kho, cá kho vẫn có thể sử dụng một ít đường mía để làm gia vị.

- Các loại mỡ động vật như mỡ heo, mỡ bò, mỡ gà, da gà, da heo, các loại lòng phủ tạng động vật vì chứa nhiều chất béo no và cholesterol làm tăng mỡ xấu trong máu gây xơ vữa động mạch.

- Chế biến món ăn dưới hình thức hầm nhừ, xay nhuyễn như khoai tây nghiền, cháo ăn liền (dễ làm tăng nhanh đường trong máu); các món chiên xào nhiều dầu mỡ như gà vịt quay, heo quay; các thức ăn nhanh như hamburger, gà rán, khoai tây chiên, snack... đây là những món ăn chứa nhiều chất béo bão hòa, béo trans gây hại sức khỏe.

- Ăn mặn: giảm số lượng muối, nước mắm, các loại gia vị trong nêm nếm. Tránh các món ăn nhiều muối như cá khô, mắm, tương, chao, dưa cải muối chua...

- Bia rượu

- Nước giải khát có nhiều đường tinh luyện như nước ngọt, sữa có đường trừ trường hợp bị hạ đường huyết.

4. Nên ăn đều đặn, đúng giờ

Các bữa ăn nên được phân bố thành 3-4 bữa trong ngày, tránh ăn vặt cả ngày, thông thường có 3 bữa ăn chính gồm điểm tâm, bữa ăn trưa và bữa ăn chiều, có thêm 1-2 bữa phụ nhỏ nếu cần.

5. Ngưng hút thuốc và tập luyện thể dục đều đặn

Chế độ ăn hợp lý rất quan trọng đối với người bệnh đái tháo đường, đòi hỏi người bệnh phải luôn tuân thủ, đây cũng là chế độ ăn khỏe mạnh cho tất cả mọi người. Trong một số trường hợp có nhiều bệnh lý khác kèm theo hoặc đã có biến chứng như suy thận, tim mạch..., người bệnh đái tháo đường cần gặp các chuyên gia dinh dưỡng để được tư vấn cụ thể.

loading