Cơ chế gây bệnh đái tháo đường

● PGS.TS. Nguyễn Thy Khuê
Chủ tịch Hội Đái tháo đường và Nội tiết TP.HCM

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một rối loạn chuyển hóa có đặc điểm chính là glucose trong máu tăng cao, do thiếu insulin tuyệt đối hoặc tương đối và/hoặc giảm chức năng của insulin. Tình trạng tăng glucose huyết kéo dài sẽ đưa đến các biến chứng ở mạch máu lớn và mạch máu nhỏ.

Tại sao thiếu hụt hoặc giảm chức năng insulin lại gây bệnh đái tháo đường?

Insulin là một hormon do tuyến tụy tạng tiết ra. Sau khi ăn, glucose được hấp thu từ ruột vào máu, kích thích tuyến tụy tiết insulin, insulin sẽ giúp đưa glucose vào tế bào cơ và tế bào mỡ, ngoài ra sẽ ngăn sự sản xuất glucose từ gan và sự tân sinh đường trong gan.

Khi nhịn đói, cơ thể vẫn cần glucose để duy trì hoạt động của các cơ quan, gan sẽ sản xuất glucose từ 2 nguồn: thủy phân glycogen dự trữ ở gan thành glucose để đưa vào máu và sự tân sinh đường. Sự tân sinh đường tại gan là sự tổng hợp và sản xuất glucose từ các chất có nguồn gốc từ chất đạm và mỡ. Hoạt động sinh lý bình thường này giúp cho nồng độ glucose huyết duy trì ở mức vừa đủ, không quá cao sau khi ăn, không quá thấp khi nhịn đói.

Trong bệnh ĐTĐ, cơ thể không còn insulin hoặc có insulin nhưng hormon này không thực hiện được các tác dụng sinh lý kể trên, nói cách khác cơ thể không còn nhạy cảm với insulin hoặc đề kháng với tác dụng của insulin. Tuy nhiên, còn nhiều cơ chế khác góp phần gây ra tăng glucose huyết như tăng tiết glucagon (hormon có tác dụng tăng glucose huyết do tụy chế tiết), giảm tiết các hormon incretin ở ruột (incretin có nhiều tác dụng như giúp tụy tăng tiết insulin, giảm tiết glucagon, làm chậm sự chuyển thức ăn từ dạ dày xuống ruột, tác dụng trên não làm giảm sự thèm ăn), tăng tái hấp thu glucose tại thận.

Như vậy, bệnh ĐTĐ rất đa dạng về cơ chế bệnh sinh, tuy nhiên, người ta cũng đã cố gắng phân loại bệnh ĐTĐ để giúp cho việc nghiên cứu và điều trị được hiệu quả hơn. Theo kinh điển, người ta thường phân loại bệnh ĐTĐ như sau:

1) ĐTĐ týp 1

2) ĐTĐ týp 2

3) ĐTĐ thai kỳ

4) Tăng glucose huyết cho các nguyên nhân khác: do đơn gen, do hóa chất, do các bệnh nội tiết…

ĐTĐ týp 1: ĐTĐ có đặc trưng chính là bệnh nhân không còn insulin trong cơ thể, hoặc còn rất ít do quá trình tự miễn phá hủy tế bào bê-ta của tụy tạng. Cho đến nay, người ta chưa hoàn toàn biết rõ vì sao cơ thể lại tạo kháng thể phá hủy tế bào bê-ta. Chẩn đoán týp 1 dựa vào đo lượng kháng thể kháng đảo tụy hoặc kháng men glutamic acid decarboxylase và nồng độ C peptid giảm thấp khi tăng glucose trong máu. Điều trị bắt buộc phải dùng insulin.

(Chú thích: Insulin trước khi đưa vào máu được dự trữ trong các hạt dưới dạng tiền phân tử proinsulin, khi cần phóng thích vào máu, proinsulin sẽ bị thủy phân thành insulin và C peptid. Như vậy, nồng độ C peptid trong máu cho biết lượng insulin nội sinh do tụy chế tiết).

ĐTĐ thể LADA (Latent Autoimmune Diabetes of Adulthood) là thể ĐTĐ cũng có cơ chế bệnh sinh là tự miễn như ĐTĐ týp 1 nhưng diễn tiến chậm, do đó khởi phát bệnh từ từ và thường xuất hiện ở tuổi trẻ hơn. Nhiều tác giả cho rằng LADA là một biến thể của ĐTĐ týp 1 hoặc ĐTĐ týp 1,5.

ĐTĐ týp 2 chiếm 90% tất cả các trường hợp bệnh ĐTĐ. Cơ chế bệnh sinh chính là đề kháng insulin, do đó lúc đầu nồng độ insulin trong máu của bệnh nhân sẽ tăng cao, dù vẫn có tình trạng giảm chức năng tết bào bê-ta. ĐTĐ có thể chẩn đoán bằng các dấu chứng lâm sàng, tuy nhiên cũng có thể đo C peptid và/hoặc insulin máu. Điều trị chủ yếu dựa vào chế độ ăn uống và luyện tập hợp lý, thuốc viên giảm glucose huyết, tuy nhiên cũng có khi cần đến insulin.

Thể ĐTĐ týp 2 ở người trẻ tuổi (MODY-Maturity Onset Diabetes of the Young) là dạng ĐTĐ do di truyền đơn gen, theo gen thường, trội. Đột biến xảy ra ở gen kiểm soát sự sản xuất insulin do đó bệnh nhân có thiếu insulin tương đối nhưng ít khi đưa đến nhiễm toan ceton. Có thể chẩn đoán bằng phân tích gen. Tùy dạng bệnh, có thể điều trị bằng thuốc viên hoặc insulin.

xem thêm: Chế độ ăn điều trị bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường thai kỳ là tình trạng tăng đường huyết được phát hiện trong thai kỳ, thường vào tuần lễ 24-28 của thai kỳ. Khoảng 50% những bệnh nhân này trong tương lai sẽ bị ĐTĐ týp 2. Đôi khi ĐTĐ thai kỳ cũng là tình trạng khởi đầu của ĐTĐ týp 1. ĐTĐ thai kỳ sẽ được điều trị bằng dinh dưỡng, luyện tập và insulin.

Nếu ngay từ quý đầu, thai phụ đi khám thai đã có đường huyết tăng thì đó là ĐTĐ đã có từ trước nhưng không được chẩn đoán.

ĐTĐ ty thể do đột biến hệ thống gen của ty thể, đây là nhóm bệnh hiếm chiếm khoảng 0,5-2% các trường hợp ĐTĐ, di truyền từ mẹ. Thể thường gặp nhất do đột biến gen leucine transfer RNA của ty thể.

Glucocorticoid là hormon gây đề kháng insulin mạnh. Do đó, ĐTĐ do sử dụng cortiocid là dạng ĐTĐ do thuốc khá thường gặp. Điều trị thường cần đến insulin.

Ngày nay, nhờ sự tiến triển của sinh học phân tử và di truyền, miễn dịch học…, người ta nhận thấy các yếu tố bệnh sinh thường đan xen lẫn nhau, thí dụ đái tháo đường týp 1 vẫn có thể có đề kháng insulin và ĐTĐ týp 2 cũng có suy chức năng tế bào bê-ta trầm trọng. Ngoài ra, người ta cũng xác định được một số yếu tố nguy cơ mới của bệnh ĐTĐ như:

- Ô nhiễm môi trường làm tổn thương hệ miễn dịch.

- Thay đổi hệ vi sinh vật ở ruột do ăn uống không lành mạnh (ăn nhiều chất béo trans từ thức ăn chiên ngập dầu, đường hấp thu nhanh), do dùng nhiều kháng sinh nhất là ở trẻ em.

- Thiếu ngủ, béo phì kèm ngưng thở lúc ngủ…

- Nghiện thuốc lá.

loading