Đái tháo đường đang gia tăng như bệnh dịch

● TS.BS. Trần Bá Thoại - Ủy viên BCH Hội Nội tiết Việt Nam

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi 30 giây lại có 1 người mắc bệnh ĐTĐ bị cắt cụt chi do biến chứng bàn chân ĐTĐ, mỗi ngày có 5.000 người bị mù lòa do biến chứng mắt ĐTĐ, và mỗi năm có khoảng 3,2 triệu người chết vì các bệnh liên quan tới ĐTĐ...

Vì vậy, WHO nhận định rằng “Thế kỷ XXI này là thế kỷ của các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa mà điển hình là bệnh ĐTĐ. Những gì mà đại dịch HIV/AIDS đã hoành hành 20 năm cuối thế kỷ XX thì đó sẽ là điều ĐTĐ làm trong 20 năm đầu của thế kỷ XXI”. Như vậy, ĐTĐ đang là một gánh nặng thực sự cho sự phát triển kinh tế - xã hội và sức khỏe của con người toàn thế giới trong thế kỷ XXI.

Đái tháo đường đang gia tăng nhanh chóng tại Việt Nam và toàn thế giới

Trước đây, theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 1995 có 135 triệu người ĐTĐ trên toàn thế giới (chiếm 4% dân số thế giới); dự báo năm 2010 sẽ là 221 triệu người và năm 2025 là 330 triệu người mắc căn bệnh này (chiếm 5,4%). Gần đây, WHO thống kê lại, năm 2011 trên toàn thế giới đã có 366 triệu người mắc bệnh ĐTĐ và dự kiến đến năm 2030 sẽ có 552 triệu người. Tại Việt Nam, theo điều tra năm 2001, tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ tại khu vực nội thành của 4 thành phố lớn là 4%, đến năm 2008 tỷ lệ chung toàn quốc là 5,7% và đến nay đã hơn 6%.

Theo điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ương (2012), tại 6 vùng sinh thái trong cả nước, gồm miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Tây Nam bộ. Kết quả cho thấy tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ ở nước ta chiếm 5,7% dân số. Trong đó, Tây Nam bộ có tỷ lệ cao nhất với 7,2% dân số và thấp nhất là khu vực Tây Nguyên với 3,8% dân số. Tỷ lệ nữ giới mắc ĐTĐ nhiều hơn nam giới gần 5%. Người trên 45 tuổi, người có vòng eo lớn và trong gia đình từng có người bị ĐTĐ có nguy cơ mắc bệnh này cao hơn từ 2 đến 5 lần so với người bình thường. Điều tra cũng chỉ ra một thực trạng đáng quan tâm là tỷ lệ người bệnh ĐTĐ trong cộng đồng không được phát hiện là 63,6%, trong đó Tây Nam bộ có tỷ lệ cao nhất chiếm 72,1%. Trong khi tỷ lệ bỏ sót trên thế giới chỉ là 50%.

đái tháo đường

Tuy tỷ lệ ĐTĐ của Việt Nam không cao nhất thế giới

* Tốc độ phát triển ĐTĐ nhanh nhất thế giới

* Người ĐTĐ đang “trẻ hóa” nhiều

* Nhận thức của cộng đồng về ĐTĐ rất thấp

xem thêm: Cơ chế gây bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường được hiểu như thế nào?

Bệnh đái tháo đường (còn có các tên gọi khác là đái đường hay tiểu đường) là một tình trạng tăng đường máu bệnh lý do thiếu hormon insulin hoặc do insulin hoạt động không hiệu quả vì bị tình trạng kháng insulin gây ra.

Sự thiếu hụt insulin có thể xảy ra do 2 nhóm nguyên nhân:

- Một là tế bào bê-ta bị hư hỏng không chế tiết được insulin (bệnh ĐTĐ thể 1 hay ĐTĐ lệ thuộc insulin).

- Hai là tế bào bê-ta bị suy yếu chế tiết không đủ insulin cần thiết (bệnh ĐTĐ thể 2 hay ĐTĐ không lệ thuộc insulin).

Tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường

Theo khuyến cáo của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa kỳ (ADA) năm 2013, để chẩn đoán ĐTĐ, chúng ta dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau:

(1) HbA1c ≥ 6,5%

(2) Đường máu đói (đã nhịn ăn ít nhất 8 giờ)
Go ≥ 7.0mmol/L ( ≥ 126mg/dL)

(3) Đường máu 2 giờ trong nghiệm pháp dung nạp glucose
G2 ≥ 11,1mmol/L (≥ 200mg/dL)

(4) Đường máu bất kỳ Gc
Gc ≥ 11,1mmol/L (≥ 200mg/dL)

Ai, khi nào cần tầm soát đái tháo đường?

BMI ≥ 23kg/m2 và ở người có nhiều hơn một trong các yếu tố nguy cơ sau:

- Ít vận động thể lực
- Gia đình trực hệ có ĐTĐ (bố, mẹ, anh chị em ruột)
- Sinh con nặng ≥ 4kg hay bị ĐTĐ thai kỳ
- Tăng huyết áp
- Nồng độ HDL cholesterol < 35mg/dL và/hay nồng độ triglyceride > 250mg/dL
- Có vòng eo: Nam ≥ 90cm, Nữ ≥ 80cm
- Phụ nữ bị buồng trứng đa nang
- HbA1c ≥ 5,7%, RLGMĐ hay RLDNG trước đó
- Có các dấu hiệu kháng insulin lâm sàng (béo phì, ngủ liền khi ăn no, dấu gai đen…)
- Tiền căn có bệnh mạch vành

Ở bệnh nhân không có các triệu chứng trên, cũng nên bắt đầu thực hiện xét nghiệm sàng lọc đái tháo đường ở người ≥ 45 tuổi. Người lớn trên 45 nên tầm soát ĐTĐ mỗi năm một lần, nếu có nguy cơ cao nên thực hiện 6 tháng.

Với đối tượng phụ nữ mang thai, cần tầm soát ĐTĐ thai kỳ. Đặc biệt ở những thai phụ có yếu tố nguy cơ, nên sàng lọc ĐTĐ ngay trong lần thăm khám thai đầu tiên, với các tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ thường quy trên. Ở thai phụ không biết ĐTĐ trước đó, nên sàng lọc ĐTĐ thai kỳ ở tuần thai thứ 24 đến 28, dùng nghiệm pháp dung nạp glucose (RLDNG, IGT).

loading