Đái tháo đường trong thai kỳ

● PGS.TS. Nguyễn Thy Khuê
Chủ tịch Hội Đái tháo đường và Nội tiết TP.HCM

Đái tháo đường thai kỳ là bệnh đái tháo đường xuất hiện trong thời kỳ mang thai, thường vào nửa sau của thai kỳ. Đa số thai phụ bị đái tháo đường thai kỳ sẽ có đường huyết trở về mức bình thường sau khi sinh.

Cần phân biệt đái tháo đường thai kỳ với bệnh đái tháo đường và thai (bệnh nhân đã biết và đang điều trị đái tháo đường từ trước rồi mới có thai). Những thai phụ được phát hiện đái tháo đường vào 3 tháng đầu của thai kỳ cũng được xem như là đái tháo đường thực sự và thai (nghĩa là đã có bệnh đái tháo đường từ trước khi mang thai nhưng chưa được chẩn đoán).

Phát hiện và điều trị đái tháo đường thai kỳ sớm có vai trò rất quan trọng giúp làm giảm nguy cơ bị các biến chứng cho thai. Ngoài ra, những người bị đái tháo đường thai kỳ có tăng nguy cơ bị đái tháo đường týp 2 thật sự sau này.

Tại sao bị đái tháo đường thai kỳ

Trong thai kỳ, một số hormon như estrogen, progesteron, và chorionic somatomammotropin được tiết ra với số lượng tăng dần trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối thai kỳ. Do những hormon này làm cản trở tác dụng của insulin trong việc đưa đường vào trong tế bào (còn gọi là gây đề kháng insulin), do đó cơ thể cần tiết lượng insulin nhiều hơn bình thường để duy trì mức đường huyết. Nếu tuyến tụy của người mẹ không tiết đủ insulin, nồng độ đường trong máu sẽ gia tăng và đái tháo đường thai kỳ sẽ xuất hiện.

Các biến chứng của đái tháo đường thai kỳ bao gồm:

• Sinh con to (cân nặng con lúc sinh > 4 kg), có thể làm tăng nguy cơ chấn thương cho mẹ và con lúc sinh.

• Tăng nguy cơ phải phẫu thuật lúc sinh.

• Hạ đường huyết sau sinh.

• Tiền sản giật.

• Sinh non.

• Hội chứng nguy ngập hô hấp cấp.

Cần chú ý đái tháo đường thai kỳ không gây dị tật cho thai (khác với đái tháo đường có trước khi mang thai có thể gây dị tật cho thai).

đái tháo đường trong thai kỳ

Khi nào tầm soát đái tháo đường thai kỳ?

Thông thường, tất cả phụ nữ có thai cần được tầm soát đái tháo đường thai kỳ ở tuần 24-28 của thai kỳ. Tuy nhiên có thể tầm soát sớm hơn (ví dụ như mới bắt đầu có thai hoặc ở lần thăm khám đầu tiên) nếu phụ nữ mang thai có các yếu tố nguy cơ của đái tháo đường thai kỳ như

• Tiền căn bị đái tháo đường thai kỳ ở lần mang thai trước đó hoặc tiền căn bị buồng trứng đa nang

• Đã sinh con có cân nặng lúc sinh hơn 4kg

• Béo phì

• Tiền căn gia đình bị đái tháo đường

• Có đường trong nước tiểu

• Trước khi có thai, có rối loạn đường huyết đói hoặc rối loạn dung nạp glucose

xem thêm: Đái tháo đường do corticoid

Xét nghiệm tầm soát đái tháo đường thai kỳ

1. Xét nghiệm tầm soát đái tháo đường ở lần khám thai đầu tiên (trong 3 tháng đầu thai kỳ) ở những phụ nữ có nguy cơ cao bị đái tháo đường (như đã liệt kê ở trên): Dùng tiêu chí chẩn đoán theo như tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường dành cho người không có thai (bảng 1), và thai phụ được chẩn đoán là đái tháo đường thực sự và thai.

Bảng 1: Tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường thông thường

1. Một mẫu đường huyết tương bất kỳ > 200mg/dL + các triệu chứng của tình trạng tăng đường huyết

2. Đường huyết tương khi đói > 126mg/dL (7mmol/L)

3. Đường huyết tương 2 giờ sau uống 75g glucose > 200mg/dL (11,1mmol/L)

4. HbA1c > 6,5%

2. Nghiệm pháp dung nạp glucose: Tất cả những phụ nữ có thai chưa được chẩn đoán đái tháo đường sẽ được thực nghiệm pháp dung nạp glucose ở tuần thứ 24-28 của thai kỳ. Xét nghiệm được thực hiện tại phòng khám chuyên khoa nội tiết. Bệnh nhân phải nhịn ăn ít nhất từ 10-12 giờ trước khi làm xét nghiệm. Bệnh nhân được cho uống 01 ly nước đường có chứa 75g glucose và lấy máu tĩnh mạch trước khi uống, 1 giờ và 2 giờ sau uống 75g glucose.

Chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ khi bệnh nhân có ít nhất 1 kết quả đường huyết tăng hơn giá trị bình thường như trong bảng 2 ở trên.

Bảng 2: Tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ

   
Đường huyết đói ≥ 5,1mmol/L (92mg/dL)
Đường huyết 1 giờ sau uống 75g glucose ≥ 10,0mmol/L (180mg/dL)
Đường huyết 2 giờ sau uống 75g glucose ≥ 8,5mmol/L (153mg/dL)

Điều trị đái tháo đường thai kỳ

Sau khi được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ, người bệnh sẽ được hướng dẫn chế độ ăn và cách tự theo dõi đường huyết. Đa số trường hợp (90%) đường huyết ổn định với điều trị thay đổi lối sống. Khoảng 10-15% trường hợp còn lại, người bệnh sẽ được bác sĩ chỉ định dùng insulin và người bệnh phải học cách tự chích insulin ở nhà.

Tập thể dục: Mặc dù tập thể dục không phải là biện pháp điều trị quan trọng trong đái tháo đường thai kỳ nhưng tập thể dục có thể giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn. Nếu trước đó chưa tập thể dục, bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ nên tham khảo ý kiến bác sĩ về vấn đề này.

Insulin: Khoảng 10-15% phụ nữ đái tháo đường thai kỳ cần phải chích insulin để ổn định đường huyết. Hiện tại ở Việt Nam, insulin là thuốc hạ đường huyết duy nhất được dùng ở phụ nữ bị đái tháo đường thai kỳ.

Tuy nhiên, khi bước vào giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh, nồng độ hormon sinh dục estrogen (hormon cần thiết cho quá trình tạo xương và duy trì khối lượng xương) suy giảm đột ngột… Vì vậy, sau giai đoạn mãn kinh thì hiện tượng mất xương ở phụ nữ xảy ra nhanh hơn và đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh gia tăng. Ở nam giới, việc giảm hormon sinh dục nam xảy ra một cách từ từ nên việc mất xương cũng xảy ra chậm hơn nữ.

loading